Trang chủ Kiến nghị và trả lời kiến nghị của cử tri HDNDVPDBQH

Trả lời kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thứ bảy, trước kỳ họp thứ tám HĐND tỉnh, khoá XIV
(Ngày đăng :14/12/2018 11:33:15 CH)


Đ/c Tống Thanh Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ tám

Trong 6 tháng cuối năm 2018, Thường trực HĐND tỉnh đã xem xét, chuyển 76 kiến nghị của cử tri được các tổ đại biểu HĐND tỉnh, đại biểu HĐND tỉnh tiếp thu, tổng hợp tại các cuộc tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ bảy và trước kỳ họp thứ tám HĐND tỉnh tới UBND tỉnh và 15 sở, ban, ngành, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành đã có văn bản trả lời, Thường trực HĐND tỉnh tổng hợp, báo cáo các đại biểu HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ tám HĐND tỉnh, BBT Trang Thông tin điện tử HĐND tỉnh đăng nội dung trả lời, như sau:

A. NỘI DUNG TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI SAU KỲ HỌP THỨ BẢY HĐND TỈNH

I. HUYỆN PHONG THỔ

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 301/BC-UBND ngày 12/10/2018)

a) Cử tri xã Sì Lở Lầu, Ma Ly Chải kiến nghị:UBND tỉnh tiếp tục bổ sung đủ vốn công trình Dự án nâng cấp đường Dào San - Sì Lở Lầu đoạn Sì Lở Lầu - Mồ Sì San với tổng mức đầu tư 135 tỷ đồng, đã bố trí 121.811 triệu đồng. Đề nghị bổ sung 13.189 triệu đồng, để phục vụ nhu cầu giao thông của Nhân dân trên địa bàn.

Trả lời: Dự án nâng cấp đường Dào San - Sì Lở Lầu được phê duyệt bổ sung tại Quyết định số 1376/QĐ-UBND ngày 28/10/2010 của UBND tỉnh với tổng mức đầu tư 301,4 tỷ đồng; Giai đoạn II: Đoạn Sì Lở Lầu - Mồ Sì San có tổng mức đầu tư là 135 tỷ đồng. Qua rà soát, số vốn đã bố trí từ năm 2012-2018 cho giai đoạn II là 130,919 tỷ đồng và đã được bố trí hết theo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020. Đề nghị chủ đầu tư khẩn trương thực hiện công tác quyết toán dự án theo quy định.

b) Cử tri xã Hoang Thèn, Lản Nhì Thàng kiến nghị: Năm 2017 xã Hoang Thèn, Lản Nhì Thàng được công nhận là xã đặc biệt khó khăn nhưng chưa được bổ sung vào danh mục các xã được đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học theo Quyết định 1071/QĐ-UBND ngày 26/8/2016 của UBND tỉnh về ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 34/2016/NQ-HĐND ngày 28/7/2016 của HĐND tỉnh Lai Châu thông qua Đề án Nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020, đề nghị UBND tỉnh sớm điều chỉnh bổ sung để đảm bảo nhu cầu dạy và học của các nhà trường trong xã.

Trả lời: Thực hiện Nghị quyết số 34/2016/NQ-HĐND ngày 28/7/2016 của HĐND tỉnh Lai Châu thông qua Đề án Nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020, UBND tỉnh đã ban hành theo Quyết định 1071/QĐ-UBND ngày 26/8/2016 về việc phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết. Tại thời điểm ban hành Đề án có 75 xã đặc biệt khó khăn và được thực hiện trong giai đoạn 2016-2020, do đó để đảm bảo Đề án nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 có tính thống nhất nên không thực hiện bổ sung 2 xã Hoang Thèn, Lản Nhì Thàng vào danh mục đầu tư của Quyết định số 1071/QĐ-UBND ngày 26/8/2016 của UBND tỉnh. Sau khi kết thúc giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh sẽ tổng kết, đánh giá kết quả đạt được của Đề án nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn, nếu Đề án triển khai thực hiện có hiệu quả thì sẽ xem xét Quyết định tiếp tục triển khai thực hiện Đề án trong thời gian tới. Khi đó UBND tỉnh sẽ chỉ đạo cơ quan tham mưu đưa 02 xã Hoang Thèn và Lản Nhì Thàng vào danh mục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.

c) Cử tri xã Mù Sang kiến nghị: UBND tỉnh tiếp tục xem xét đầu tư kinh phí xây dựng đường nước sinh hoạt phục vụ Nhân dân xã Mù Sang.

Trả lời: Dự án chưa có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 nên đến nay chưa được xem xét đầu tư. UBND tỉnh tiếp thu ý kiến của cử tri và chỉ đạo các cơ quan chuyên môn nghiên cứu tham mưu đầu tư dự án vào kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025.

2. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 1461/BC-BCH ngày 10/10/2018)

Cử tri xã Mù Sang kiến nghị:Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh giải quyết dứt điểm việc đền bù cho các hộ dân xã Mù Sang bị ảnh hưởng do thi công công trình kè bảo vệ Mốc 69.

Trả lời: Công trình Kè bảo vệ mốc 69 (3), huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu được Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư năm 2002 hoàn thành năm 2004. Ngay sau khi có quyết định phê duyệt dự án Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã hợp đồng với Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Phong Thổ để thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Trong thời gian chờ quyết định phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng, đơn vị thi công đã chủ động thương lượng với các hộ gia đình có đất nằm trong diện giải tỏa để thi công công trình kịp tiến độ. Do tiến độ lập phương án, dự toán bồi thường giải phóng mặt bằng chậm, đến ngày 13/12/2016 Ủy ban nhân dân huyện Phong Thổ mới ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư công trình kè bảo vệ mốc 69 (3) với tổng mức bồi thường hỗ trợ tái định cư là 686 triệu đồng. Trong khi đó, nguồn vốn bố trí cho dự án đến hết năm 2004 là 73,6 tỷ đồng trên tổng mức đầu tư của dự án là 75,0 tỷ đồng, vì vậy để giải ngân kế hoạch vốn được giao Chủ đầu tư đã thanh toán cho các gói thầu xây lắp, tư vấn và các chi phí khác… hết số vốn được bố trí. Do nguồn kinh phí phân bổ cho dự án hiện còn thiếu 1,4 tỷ đồng, nên chưa có kinh phí để chi trả tiền cho các hộ gia đình bị ảnh hưởng. Hằng năm Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đều báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan có liên quan sớm bố trí nguồn kinh phí để thanh toán cho các hộ dân bị ảnh hưởng.

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh có Công văn số 1547/UBND-TH ngày 05/10/2018 về việc xây dựng phương án phân bổ 10% dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh đã đăng ký nhu cầu vốn cho các dự án Kè bảo vệ chân cột mốc còn thiếu là 5.416 triệu đồng gồm: Kè bảo vệ chân cột mốc 18 (3) là 3.043 triệu đồng; Kè bảo vệ chân cột mốc 42 là 1.388 triệu đồng; Kè bảo vệ mốc 69 (3) là 985 triệu đồng. Đề nghị Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng quan tâm sớm bố trí vốn để Chủ đầu tư chi trả các khoản kinh phí còn nợ đọng, đặc biệt là chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng để giải quyết dứt điểm kiến nghị của cử tri.

3. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 2852/PCLC-TTBVPC ngày 10/10/2018)

Nhóm cử tri các bản: Séo Lẻn, Lèng Suôi Chin, Hoang Thèn - xã Hoang Thèn; thôn Tây Sơn - xã Mường So; Hoàng Chầu Văn - xã Sin Suối Hồ; Sàng Sang - xã Mù Sang kiến nghị: Hiện nay còn một số nhóm hộ dân cách xa điểm trung tâm các bản nên chưa được sử dụng điện lưới Quốc gia (cụ thể: Xã Hoang Thèn: Bản Séo Lẻn 14 hộ, Lèng Suôi Chin 29 hộ, Nậm Cáy 12 hộ, Hoang Thèn 18 hộ; xã Mường So: Thôn Tây Sơn 8 hộ; xã Sin Suối Hồ: Điểm dân cư Hoàng Chầu Văn 38 hộ, 01 điểm trường 02 cấp học; xã Mù Sang: bản Sàng Sang 06 hộ, Sin Chải 12 hộ, bản Hán Sung chưa được sử dụng điện). Đề nghị Công ty Điện lực Lai Châu xem xét bố trí kinh phí đầu tư đường dây điện đến các nhóm hộ trên để người dân được sử dụng điện.

Trả lời: Xã Hoang Thèn: (Bản Séo Lẻn 14 hộ; Lèng Suôi Chin 29 hộ; Nậm Cáy 12 hộ; Hoang Thèn 18 hộ); xã Mường So (Thôn Tây Sơn 8 hộ): 100% các hộ dân thuộc các bản nêu trên đã được sử dụng điện lưới Quốc gia. Xã Sin Suối Hồ: (Điểm dân cư Hoàng Chầu Văn 38 hộ, 01 điểm trường 02 cấp học); xã Mù Sang: (Bản Sàng Sang 06 hộ, Sin Chải 12 hộ, bản Hán Sung). Hai xã này được cấp điện bằng dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện Quốc gia tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015-2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt BCNCKT tại Quyết định số 4295/QĐ-BCT ngày 28/10/2016. Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, dự án chưa được bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

II. HUYỆN SÌN HỒ

1. Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Giao thông trả lời (tại Công văn số 444a/BQLDA - KHTC ngày 15/10/2018)

Cử tri xã Noong Hẻo kiến nghị: Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông khôi phục lại đoạn đường từ ngã tư dự án đường Quốc lộ 32 - Thân Thuộc - Nậm Cần - Nậm Sỏ - Noong Hẻo - Nậm Tăm - Séo Lèng đi qua trụ sở UBND xã Noong Hẻo đến Ná Thẳm trước khi hoàn thành dự án, hiện nay các phương tiện trọng tải lớn thi công công trình đi qua làm hư hỏng nghiêm trọng tuyến đường trên.

Trả lời: Qua kiểm tra hiện trạng thực tế tại đoạn đường từ ngã tư dự án Đường Quốc lộ 32 - Thân Thuộc - Nậm Cần - Nậm Sỏ - Noong Hẻo - Nậm Tăm - Séo Lèng đi qua trụ sở UBND xã Noong Hẻo đến Ná Thẳm là đoạn đường cũ, đã xuống cấp trước khi dự án triển khai thi công. Trong quá trình triển khai thi công dự án Đường QL32 - Thân Thuộc - Nậm Cần - Nậm Sỏ - Noong Hẻo - Nậm Tăm - Séo Lèng do mặt đường cũ đã xuống cấp cộng với lưu lượng xe phục vụ thi công tăng đột biến, trong đó có các xe tải trọng lớn chạy qua làm cho đoạn đường trên xuống cấp nhanh chóng.

Để đảm bảo nguyện vọng của cử tri và nhân dân xã Noong Hẻo, Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Giao thông tỉnh sẽ kiến nghị UBND tỉnh cho phép bổ sung triển khai làm lại đoạn đường nói trên trong thời gian thực hiện dự án.

2. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Công văn số 1189/SGTVT – KCHT ngày 12/10/2018)

Cử tri xã Xà Dề Phìn kiến nghị: Sở Giao thông vận tải nghiêm cấm và xử lý kỷ luật những cán bộ sử dụng thuốc diệt cỏ trên tuyến đường tỉnh lộ 128, 129 làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đời sống của Nhân dân.

Trả lời:

- Tuyến ĐT.128 do Công ty CP XD&QL đường bộ 1 quản lý, qua báo cáo của Công ty tại khu vực địa bàn xã Xà Dề Phìn, đơn vị đã vi phạm sử dụng phun thuốc diệt cỏ lề đường, không tuân thủ quy định trong công tác BDTX của ngành giao thông. Sở GTVT đã xử lý vi phạm trừ điểm chất lượng, giảm trừ kinh phí BDTX Quí III/2018 của đơn vị và chỉ đạo đơn vị chấm dứt ngay việc phun thuốc diệt cỏ, nếu tiếp tục tái diễn Sở sẽ chấm dứt hợp đồng theo quy định, bên cạnh đó yêu cầu Công ty kiểm điểm trách nhiệm đối với các trường hợp cá nhân vi phạm, Công ty đã có báo cáo kết quả xử lý gửi về Sở GTVT.

- Tuyến ĐT.129 do Công ty CP QL&XD cầu đường 3 quản lý, ngày 10/9/2018 Công ty đã làm việc với xã Xà Dề Phìn, cùng nhau thống nhất lập Biên bản và xác nhận không có tình trạng Công ty phun thuốc diệt cỏ trên tuyến.

3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số 957/BC-SNN ngày 12/10/2018)

Cử tri xã Pa Tần kiến nghị: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm sửa chữa khắc phục công trình nước sạch Trung tâm xã Pa Tần để phục vụ đời sống và sản xuất của Nhân dân, hiện nay công trình bị hư hỏng trong đợt mưa lũ tháng 6/2018.

Trả lời:

Công ty cấp nước Trung tâm xã Pa Tần được đầu tư xây dựng và đưa vào bàn giao sử dụng tháng 5 năm 2017, cấp nước cho 6 bản: An Tần, Pa Tần 1 +2 +3 +4, Cầu Phà. Sau khi bàn giao, công trình hoạt động tốt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân, tuy nhiên do đợt mưa lũ kéo dài 4 ngày (từ ngày 24/6 đến ngày 28/6/2018) làm cho một số hạng mục của công trình bị hư hỏng nặng, không đảm bảo cấp nước phục vụ Nhân dân.

Ngay sau đợt mưa lũ kết thúc, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo Trung tâm nước sạch và VSMT nông thôn phối hợp với các đơn vị có liên quan rà soát đánh giá lập phương án sửa chữa, dự kiến sử dụng nguồn vốn Chương trình Mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả theo kế hoạch năm 2019 của tỉnh để sửa chữa. Tuy nhiên đây là Nguồn vốn nước ngoài được quản lý theo quy định của Luật Đầu tư công nên không thể bố trí ngay được. Vì vậy để sớm sửa chữa khắc phục công trình cấp nước Trung tâm xã Pa Tần để phục vụ đời sống Nhân dân, Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị:

- Trước mắt để phục vụ nhu cầu cấp nước sinh hoạt cấp thiết của nhân dân 06 bản Trung tâm xã Pa Tần đồng thời để các hạng mục khác của công trình không bị hư hỏng thêm, đề nghị UBND huyện Sìn Hồ xem xét bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ khắc phục thiệt hại do mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất để khắc phục tạm thời.

- Để khắc phục, sửa chữa công trình kiên cố, toàn diện. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Trung tâm nước sạch và VSMTNT lập hồ sơ thiết kế, trình thẩm định phê duyệt và sử dụng nguồn vốn Chương trình “Mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả” kế hoạch năm 2019 để thực hiện.

4. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 2852/PCLC-TTBVPC ngày 10/10/2018 và Công văn số 3504/PCLC-TTBVPC ngày 07/12/2018)

a) Cử tri các xã Pa Tần, Noong Hẻo, Pu Sam Cáp kiến nghị: Công ty Điện lực Lai Châu rà soát đóng điện cho các bản chưa có điện để phục vụ đời sống sinh hoạt của Nhân dân các bản: Nậm Tần Mông 1, 2, Nậm Sảo, Lồng Thàng, xã Pa Tần.

Trả lời:

Nội dung này đã trả lời tại văn bản số 2852/PCLC-TTBVPC ngày 10/10/2018 dự kiến hoàn thành trong quý IV/2018. Đến nay Công ty Điện lực Lai Châu phối hợp các bên liên quan đã nghiệm thu kỹ thuật đóng điện nhánh rẽ bản Nậm Tần Mông 1, 2 xã Pa Tần - Huyện Sìn Hồ, thực hiện đóng điện trong tháng 11 năm 2018 và cấp điện cho nhân dân khu vực bản Nậm Tần Mông 1,2. Hiện nay đã có nguồn đấu nối để cấp điện cho hạng mục điểm tái định cư Lồng Thàng xã Pa Tần - Huyện Sìn Hồ.

b) Cử tri các xã Noong Hẻo, Pu Sam Cáp kiến nghị: Xem xét đầu tư kéo điện cho các bản Bản Ta Đanh, Noong Om 1,2, Pú Co Có, xã Noong Hẻo; Bản Nậm Béo, xã Pu Sam Cáp.

Trả lời:

- Bản Ta Đanh, Noong Om 1, 2, Pú Co Có, xã Noong Hẻo: 100% các hộ dân thuộc các bản này đã được sử dụng điện lưới Quốc gia.

- Bản Nậm Béo, xã Pu Sam Cáp: Được cấp điện lưới Quốc gia bằng dự án cấp điện cho các thôn, bản chưa có điện tỉnh Lai Châu đã được Bộ Công thương phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 6739/QĐ-BCT ngày 18/9/2013; dự án do Tổng công ty Điện lực miền Bắc làm chủ đầu tư, Công ty Điện lực Lai Châu thực hiện triển khai dự án (Ban QLDA). Trong năm 2018 Công ty Điện lực Lai Châu đã chỉ đạo nhà thầu xây lắp triển khai thi công. Do trong quá trình thi công phải điều chỉnh thiết kế và nguồn vốn ngân sách Trung ương hàng năm cấp cho dự án rất hạn chế nên gói thầu trên thi công không đạt tiến độ theo kế hoạch. Hiện nay Công ty Điện lực Lai Châu đang phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện phê duyệt điều chỉnh thiết kế của gói thầu và chỉ đạo nhà thầu xây lắp tập trung nhân lực, vật lực để thi công. Dự kiến đóng điện trong quý IV năm 2018.

5. Công ty TNHH xây dựng Hưng Hải trả lời(tại Công văn số 160/2018/CV - VHTB ngày 11/9/2018)

Cử tri xã Pa Tần kiến nghị:Tập đoàn Hưng Hải khi xả nước thủy điện phải thông báo sớm để Nhân dân chủ động ứng phó khi mực nước dâng, tránh thiệt hại lớn như đợt lụt tháng 6/2018 vừa qua.

Trả lời: Công ty TNHH Xây dựng Hưng Hải Chủ đầu tư của nhà máy Thủy điện Nậm Na 2. Hiện nay tình hình diễn biến rất bất thường do sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu dẫn đến lượng mưa nhiều, lũ lớn hơn trong tháng 6 năm 2018 so với các năm qua. Dòng sông Nậm Na được bắt nguồn từ Trung Quốc cùng với các nhánh sông, suối nhỏ chảy về trên sông với lưu lượng nước rất lớn. Do đó Công ty TNHH Xây dựng Hưng Hải xin trả lời kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thứ bảy HĐND tỉnh khóa XIV với bảng thống kê số liệu từ năm 2016 đến tháng 6 năm 2018 qua bảng số liệu so sánh thời điểm lũ xuất hiện lớn nhất của các năm cụ thể như sau:

Năm

2016

2017

2018

Thời điểm xuất hiện lũ lớn nhất

Ngày 20/8/2016

Ngày 10/7/2017

Ngày 25/6/2018

Lưu lượng nước về lớn nhất

880 ÷ 920 m3/s

1600 ÷ 1700 m3/s

2300 ÷ 2806 m3/s

Thời gian duy trì đỉnh lũ

Từ 02h đến 06h cùng ngày

Từ 09h đến 13h cùng ngày

Từ 10h ngày 25 đến 11h ngày 26/6/2018

Nhà máy thủy điện Nậm Na 2 được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2015 với thiết kế nhà máy sau đập (thuộc loại đập dâng điều tiết ngày). Khi lũ về hồ không có khả năng tích nước phải mở cửa van cung xả nước về hạ du với lưu lượng nước xả bằng với lưu lượng nước về hồ tại cùng thời điểm.

Công ty TNHH Xây dựng Hưng Hải đã chỉ đạo Công ty cổ phần quản lý vận hành thủy điện Tây Bắc, nhà máy thủy điện Nậm Na 2 cập nhật theo dõi thường xuyên, liên tục lưu lượng nước về hồ trong mùa lũ. Trước khi xả lũ Công ty cũng đã phát thông báo bằng văn bản, liên lạc bằng điện thoại, hú còi theo quy định tới chính quyền, người dân địa phương xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ và thực hiện điều tiết nước theo quy trình điều tiết hồ chứa đã được Bộ Công Thương ban hành đảm bảo an toàn cho đập thủy điện, nhân dân trong phạm vi bị ảnh hưởng, các công trình ở tuyến đầu mối và hạ du nhà máy. Cụ thể đợt mưa lũ trong các ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2018 vừa qua là đợt lũ lớn nhất từ trước đến nay do lưu lượng nước về hồ tăng rất nhanh, bất thường gây ngập úng, thiệt hại không nhỏ tới tài sản của Công và một phần cây cối hoa màu của bả con nhân dân trong vùng.

Công ty TNHH Xây dựng Hưng Hải kính đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu, UBND huyện Sìn Hồ, UBND xã Pa Tần xem xét giúp đỡ Công ty trong việc tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu và chủ động trọng việc di rời tài sản kịp thời khi có thông báo xả lũ của Công ty.

III. HUYỆN TÂN UYÊN

1. Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc trả lời (tại Công văn số 4415/EVNNPC-DT ngày 19/10/2018)

Cử tri bản Hô Ta, xã Phúc Khoa kiến nghị: Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc xem xét, chi trả tiền đền bù giải phóng mặt bằng tuyến đường dây 110KV cho 05 hộ dân bản Hô Ta.

Trả lời:

Dự án Đường dây 110kV Phong Thổ - Than Uyên mạch 2 và đấu nối sau TBA 220kV Than Uyên triển khai với mục tiêu đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy cho tỉnh Lai Châu và truyền tải công xuất cho các nhà máy thủy điện trong khu vực. Dự án này Tổng công ty điện lực Miền Bắc giao cho Ban QLDA lưới điện thực hiện quản lý A.

Đến nay dự án cũng đã đóng điện bàn giao cho đơn vị QLVH – Công ty lưới điện cao thế miền Bắc vào ngày 08/05/2018.

Về việc vướng mắc theo đề nghị của HĐND tỉnh Lai Châu tại văn bản số 317/HĐND-VP ngày 29/08/2018, TCT điện lực Miền Bắc xin báo cáo như sau:

Tháng 5/2016, Ban QLDA lưới điện đã tiến hành chi trả tạm ứng 80% tiền đền bù đợt 1 cho các hộ dân trên địa bàn xã Phúc Khoa trong đó có 05 hộ dân bản Hô Ta gồm các hộ: Lò Văn Đông, Hoàng Văn Cần, Lò Văn Hòa, Lò Văn Thắng, Lò Văn Hun. Tại thời điểm chi trả đợt 1, các hộ này đều đã nhận tạm ứng tiền đền bù của dự án. Tháng 6/2017, theo đề nghị của UBND huyện Tân Uyên, Ban QLDA lưới điện đã phối hợp cùng với Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Tân Uyên thực hiện chi trả tạm ứng tiền đền bù đợt 2 (20%) còn lại cho các hộ dân trên địa bàn các xã Phúc Khoa, Trung Đồng, Pắc Ta và TT Tân Uyên. Trong quá trình chi trả, Ban QLDA lưới điện đã phối hợp cùng với UBND các xã mời các hộ dân lên trụ sở UBND xã nhận tạm ứng tiền đền bù, tuy nhiên một số hộ đã không lên nhận tiền (trong đó có 05 hộ dân bản Hô Ta, xã Phúc Khoa nêu trên). Về việc này, Tổng công ty điện lực Miền Bắc đã chỉ đạo Ban QLDA lưới điện đăng ký kế hoạch với TTPTQĐ huyện Tân Uyên chỉ trả nốt tiền đền bù cho các hộ dân trong tháng 10 năm 2018.

Theo báo cáo của Ban QLDA lưới điện, hiện nay dự án chưa được phê duyệt phương án BTGPMB do vướng mắc trong việc bổ xung kế hoạch sử dụng đất.

Để có cơ sở triển khai hoàn thành công tác GPMB, Tổng công ty điện lực Miền Bắc kính đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu xem xét bổ xung kế hoạch chuyển tiếp cho dự án.

2. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Công văn số 1189/SGTVT – KCHT ngày 12/10/2018)

Cử tri bản Ngọc Lại, xã Phúc Khoa kiến nghị:Sở Giao thông vận tải xem xét, xây dựng hệ thống cống hộp đường trung tâm xã Phúc Khoa (có chiều dài 6km).

Trả lời: Sở Giao thông vận tải đã kiểm tra hiện trường hệ thống rãnh thoát dọc đoạn Km385-Km391+500/QL.32 khu vực trung tâm xã Phúc Khoa, với tổng chiều dài rãnh phải gia cố, bổ sung 3.245md (trong đó 2.500md rãnh hộp, 745md rãnh hở hình thang). Ngày 17/9/2018, Sở GTVT đã có Tờ trình số 1035/TTr-SGTVT gửi Tổng cục ĐBVN cho phép đầu tư, sau khi được chấp thuận Sở GTVT sẽ triển khai thực hiện.

  1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số 957/BC-SNN ngày 12/10/2018)

Cử tri bản Hoàng Hà, xã Pắc Ta kiến nghị: Nhân dân trong bản mua giống lúa tẻ dâu tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh về gieo trồng nhưng giống lúa không thuần, chất lượng thấp, bị lẫn nhiều, không đảm bảo, đề nghị sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ nguồn vốn để phục tráng giống lúa tại địa phương.

Trả lời:

- Nội dung: Nhân dân trong bản mua giống lúa tẻ dâu tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh về gieo trồng nhưng giống lúa không thuần, chất lượng thấp, bị lẫn nhiều, không đảm bảo.

Năm 2017, Trung tâm Khuyến nông có triển khai mô hình sản xuất giống lúa Tẻ Râu tại bản Hoàng Hà xã Pắc Ta, có sử dụng giống lúa Tẻ Râu cấp xác nhận I do Trung tâm Khuyến nông sản xuất. Các hộ dân tham gia mô hình đã được cán bộ Trung tâm Khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật sản xuất từ khâu làm đất, gieo mạ, cấy chăm sóc. Mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao như năng suất lúa cao, chất lượng gạo ngon, giá thành cao (đã được đánh giá tại thời điểm nghiệm thu mô hình).

Từ kết quả của mô hình, vụ xuân năm 2018, một số hộ dân bản Hoàng hà đã sử dụng thóc thương phẩm vụ mùa năm 2017 để gieo cấy. Ngoài ra vụ xuân năm 2018, một số diện tích gieo cấy lúa Tẻ Râu của hộ dân bị chết rét, người dân đã mua thóc Tẻ Râu của người dân ở huyện Tam Đường (thóc thương phẩm người dân tự để giống) để gieo cấy lại. kết quả sản xuất lúa Tẻ Râu năng suất đạt 50 – 52 tạ/ha, tuy nhiên thóc Tẻ Râu do người dân sử dụng là thóc chưa được chọn lọc, nên có sự lẫn tạp, đã ảnh hưởng đến chất lượng.

Nội dung trên đã được lãnh đạo UBND xã Pắc Ta và các hộ dân bản Hoàng Hà xác nhận (có biên bản làm việc).

- Nội dung: Đề nghị sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ nguồn vốn để phục tráng giống lúa tại địa phương.

Hiện nay chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu không có chính sách hỗ trợ phục tráng giống lúa. Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị UBND huyện Tân Uyên xem xét đề nghị bố trí bằng nguồn vốn sự nghiệp khoa học công nghệ tỉnh để phục tráng và chuyển giao cho người dân.

IV. HUYỆN TAM ĐƯỜNG

1. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Công văn số 1189/SGTVT – KCHT ngày 12/10/2018)

a)Cử tri bản Chu Va 12, xã Sơn Bình kiến nghị: Sở Giao thông vận tải xem xét làm gờ giảm tốc và cắm biển giao thông trên Quốc lộ 4D đoạn đường trường tiểu học, trường Mầm non bản Chu Va 12, xã Sơn Bình.

Trả lời: Sở Giao thông vận tải đã kiểm tra và cắm bổ sung 02 biển báo hiệu trường học (tại Km71+200 phải tuyến, Km71+800 trái tuyến) khu vực trường tiểu học, trường Mầm non bản Chu Va 12, xã Sơn Bình. Việc sơn vạch giảm tốc, Sở GTVT đã rà soát toàn tuyến QL.4D (Km0-Km89), báo cáo Tổng cục ĐBVN cho phép đầu tư, khi được chấp thuận Sở GTVT sẽ triển khai thực hiện.

b) Cử tri các bản: Sin Câu, Đông Phong, Lở Thàng, xã Thèn Sin kiến nghị: Sở Giao thông vận tải sớm có kế hoạch khơi thông cống rãnh thuộc tuyến đường Mường So - Thèn Sin, Thèn Sin - San Thàng; đồng thời kiên quyết trong việc giải phóng hành lang an toàn giao thông đoạn rẽ San Thàng vào Thèn Sin và xem xét nâng cao đập tràn đường từ Thèn Sin đi San Thàng.

 

Trả lời:

Tuyến đường San Thàng-Thèn Sin-BảnMấn-Mường So (nay là ĐT.130) có chiều dài 28,75Km, nằm trên địa bàn thành phố Lai Châu, huyện Tam Đường và huyện Phong Thổ. Khi nhận bàn giao hiện trạng phạm vi đất bảo trì và hành lang ATĐB trên tuyến đã bị các hộ dân xâm phạm lấn chiếm, hệ thống thoát nước một số vị trí cống rãnh đã bị tắc, vùi lấp thượng hạ lưu gây ảnh hưởng cho việc thoát nước, nguy cơ hư hỏng kết cấu đường bộ. Sở GTVT đã chỉ đạo đơn vị QLĐB thực hiện khơi thông cống rãnh trên toàn tuyến, kết quả trên địa bàn xã Thèn Sin - huyện Tam Đường đã hoàn thành; địa bàn xã Nậm Xe - huyện Phong Thổ được 70%, hiện đang tiếp tục thực hiện; còn lại 5Km địa bàn xã San Thàng - thành phố Lai Châu thực hiện rất khó khăn, nguyên nhân quá trình triển khai giải tỏa HLATĐB các hộ dân lấn chiếm gây cản trở, đến ngày 12/10/2018 kết quả được 30% và đến nay vẫn đang phối hợp triển khai thực hiện;

Việc xem xét nâng cao đập tràn trên ĐT.130 đoạn Thèn Sin-San Thàng, Sở GTVT đã kiểm tra hiện trường, nghiên cứu phương án đề xuất báo cáo UBND tỉnh xem xét cho chủ trương đầu tư để triển khai thực hiện.

2. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 2852/PCLC-TTBVPC ngày 10/10/2018)

Cử tri bản Phan Chu Hoa, xã Nùng Nàng kiến nghị:Công ty Điện lực Lai Châu thực hiện chi trả tiền đền bù cho một số hộ dân của bản khi làm đường điện hạ thế năm 2016.

Trả lời: Hiện tại công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được Công ty Điện lực Lai Châu ký hợp đồng đo đạc với Công ty cổ phần ứng dụng Tài nguyên và Môi trường (Hợp đồng số 014/HĐNT-DVĐĐ ngày 01/4/2017), hiện nay trung tâm quỹ đất Thành phố Lai Châu và huyện Tam Đường đã kê khai kiểm đếm xong tài sản, cây cối, hoa màu và đất bị ảnh hưởng đang lên phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Khi có quyết định phê duyệt Công ty Điện lực Lai Châu sẽ cùng các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chi trả đền bù cho các hộ dân theo quy định.

3. Công ty TNHH một thành viên quản lý thủy nông Lai Châu trả lời (tại Công văn số 283/CTQLTN-KHKT ngày 19/9/2018)

Cử tri bản 46 xã Sơn Bình, huyện Tam Đường kiến nghị:Công ty TNHH một thành viên quản lý Thủy nông Lai Châu xem xét có giải pháp gia cố, chống sạt lở đoạn mương thủy lợi Chu Va 12 (khu vực sau vườn ươm Công ty chè Tam Đường) để đảm bảo an toàn cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

Trả lời: Công ty đã kiểm tra và lập biên bản làm việc với UBND xã Sơn Bình ngày 18/9/2018 về nội dung trên. Thực tế điểm sạt lở không phải do mương thủy lợi Chu Va 12 gây ra. Điểm sạt lở đó do khe nước gây ra. Dọc theo khe nhiều điểm bị sạt lở hàng năm vào mùa mưa, lượng nước lớn tập trung vào khe và chảy xuống cuốn trôi bùn đất theo làm ảnh hưởng đến vườn ươm và khu dân cư. Hiện nay kênh mương qua điểm sạt lở vẫn hoạt động bình thường, điểm sạt lở còn cách kênh mương 3,5m đảm bảo an toàn cho công trình.

V. HUYỆN THAN UYÊN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 301/BC-UBND ngày 12/10/2018)

a) Cử tri 11 xã thuộc huyện Than Uyên kiến nghị: UBND tỉnh xem xét có chính sách hỗ trợ tiền ăn cho học sinh các trường không thuộc xã, bản đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135.

Trả lời: Theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách thôn bản khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020 thì các học sinh không thuộc các thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ không được nhận hỗ trợ chế độ bán trú. Để tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh sẽ giao Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu các chính sách hỗ trợ học sinh thuộc các xã, thôn, bản khu vực II của huyện nghèo ngoài Quyết định số 582/QĐ-TTg.

b) Cử tri bản Hát Nam, xã Mường Mít kiến nghị:UBND tỉnh xem xét và kiểm tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (30ha) cho Công ty TNHH một thành viên Nam Tiến (Tân Uyên) vì số diện tích này nhân dân bản Hát Nam đã sản xuất từ lâu đời.

Trả lời: UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, Công ty TNHH một thành viên Nam Tiến chưa được UBND tỉnh cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất sản xuất (30 ha) trên địa bàn huyện Tân Uyên. Diện tích đất này đã được UBND huyện Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/2016 cho ông Lường Văn Ành, bản Nà Ún, xã Pắc Ta, với diện tích 294.099 m2. Đến ngày 23/01/2018, ông Lường Văn Ành chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Chu Văn Kiên, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

2. Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên trả lời (tại Báo cáo số 270/BC-UBND ngày 12/10/2018)

Cử tri bản Hát Nam, xã Mường Mít, huyện Than Uyên kiến nghị: UBND huyện Tân Uyên xem xét và kiểm tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (7ha) cho ông Hà Văn Sương, bản Pắc Ta, huyện Tân Uyên. Vì số diện tích này nhân dân bản Hát Nam, xã Mường Mít, huyện Than Uyên sản xuất từ lâu đời.

Trả lời: Ngay sau khi nhận được nội dung kiến nghị của cử tri bản Hát Nam, xã Mường Mít, huyện Than Uyên, UBND huyện đã giao phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND xã Pắc Ta kiểm tra, rà soát, giải quyết nội dung kiến nghị của cử tri, kết quả như sau:

+ Vị trí đất cử tri bản Hát Nam, xã Mường Mít kiến nghị thuộc địa giới hành chính của xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên.

+ Nguồn gốc sử dụng đất: Vị trí đất mà cử tri bản Hát Nam, xã Mường Mít kiến nghị là đất của gia đình ông Hà Văn Xương - Bản Pắc Ta, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên tự khai hoang làm nương rẫy, canh tác ổn định từ năm 1992 đến nay (Cụ thể: Từ năm 1992 đến năm 2015 gia đình ông làm nương rẫy; năm 2015 gia đình ông trồng Chè theo dự án của huyện).

+ Ngày 31/12/2015, ông Hà Văn Xương nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vị trí đất trên với diện tích 70.399 m2. Căn cứ đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hà Văn Xương, xác nhận của UBND xã Pắc Ta về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và kết quả thẩm định của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện khẳng định số diện tích ông đề nghị đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 18/3/2016, UBND huyện Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 490813 với tổng diện tích 70.399 m2, mục đích sử dụng trồng cây lâu năm cho gia đình ông Hà Văn Xương.

Do đó, việc UBND huyện Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Văn Xương - Bản Pắc Ta, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên là đúng thoe quy định của pháp luật.

VI. HUYỆN NẬM NHÙN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 301/BC-UBND ngày 12/10/2018)

a) Cử tri các xã Nậm Chà, Nậm Ban, Nậm Hàng kiến nghị:UBND tỉnh xem xét mở 01 tuyến đường ô tô từ trung tâm xã Nậm Chà sang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên để thuận lợi cho Nhân dân đi lại, thông thương; sớm có phương án mở đường dân sinh tuần tra biên giới từ bản Hua Pảng, xã Nậm Ban theo đường mòn cũ lên mốc 50 dài 7 Km; có phương án làm đường và cầu vào 02 bản Lồng Ngài, Nậm Lay, xã Nậm Hàng (hai bản cách xa trung tâm xã khoảng 90km) để Nhân dân đi lại thuận lợi.

Trả lời: Các ý kiến kiến nghị của cử tri đề xuất đầu tư các tuyến đường giao thông phục vụ nhu cầu giao thương kinh tế - xã hội là rất cần thiết, tuy nhiên hiện nay do nguồn ngân sách địa phương rất hạn hẹp, nhu cầu đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông còn rất lớn. UBND tỉnh tiếp thu ý kiến của cử tri và sẽ chỉ đạo các ngành chức năng rà soát, tham mưu đầu tư các dự án khi cân đối được nguồn vốn.

b) Cử tri xã Trung Chải kiến nghị:UBND tỉnh có phương án lồng ghép các chương trình, đề án hỗ trợ cho dân như: Chương trình 30a, 135, đề án hỗ trợ dân tộc Mảng và một số chương trình khác kết hợp cùng hỗ trợ một đợt nhằm phát huy hiệu quả(vì một số đề án hiệu quả hỗ trợ không cao, vốn đầu tư ít nên không phát triển được…).

Trả lời: Hiện nay một số Chương trình như Chương trình MTQG về giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới,... đã được triển khai lồng ghép để thực hiện. Tuy nhiên một số Chương trình, đề án có phạm vi, đối tượng hỗ trợ không tương đồng nên không thể lồng ghép để triển khai thực hiện. UBND tỉnh tiếp thu ý kiến của cử tri và sẽ chỉ đạo các ngành chức năng liên quan rà soát tổng thể các chương trình, đề án đã ban hành; tham mưu lồng ghép thực hiện các chương trình có đối tượng hỗ trợ tương đồng đảm bảo nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình, đề án.

2. Ban QLDA ĐTXD các công trình Nông nghiệp và PTNT trả lời (tại Báo cáo số 1303/BC-BQLDA ngày 20/9/2018)

a) Cử tri Lò Văn Chủng, bản Mường Mô, Mường Mô kiến nghị: Gia đình ông chưa đồng thuận với ý kiến trả lời của Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước kỳ họp thứ 7, HĐND tỉnh, gia đình ông đã có ý kiến như sau: Gia đình có đất nương nằm dưới cos ngập với tổng diện tích là 24.000m2 mới được thanh toán 19.000m2 còn 5.000m2 chưa được thanh toán. Đề nghị Ban giải thích rõ, khi được ký nhận tiền với tổng diện tích 19.000m2, gia đình ông đã không nhất trí. Tuy nhiên, Ban đã có trả lời là sẽ có nhiều đợt thanh toán nên gia đình ông đã ký nhận với diện tích 19.000m2 còn phần diện tích thiếu sẽ thanh toán đợt sau. Đến nay, gia đình ông vẫn chưa nhận được số tiền đề bù diện tích thiếu là 5.000m2, đề nghị ban làm rõ.

Trả lời:

- Cử tri Lò Văn Chủng, bản Mường Mô: Gia đình đề nghị Ban giải thích rõ, gia đình ông có 24.922,8 m2 diện tích đất sản xuất dưới cos ngập được thu hồi tại các Quyết định cụ thể như sau: Quyết định thu hồi đất số 1541/QĐ-UBND ngày 25/11/2014 của UBND huyện Nậm Nhùn với tổng diện tích 5.398,6 m2 trong đó: Đất trồng lúa nước 2 vụ 4.845 m2,đất nuôi trồng thủy sản553,6 m2.

- Tại Quyết định thu hồi số 1250/QĐ-UBND ngày 08/9/2015 của UBND huyện Nậm Nhùn với tổng diện tích đất nương rẫy 19.524,2 m2

- Trên cơ sở các Quyết định thu hồi của UBND huyện Nậm nhùn, Ban QLDA đã phê duyệt phương án bồi thường bù chênh lệch đất tại Quyết định số 750/QĐ-BQLDA ngày 18/12/2015 đã chi trả đầy đủ cho gia đình ông với tổng số tiền 459.817.000 đồng. Tuy nhiên ông vẫn kiến nghị thiếu 5.000 m2 là không đúng và không có căn cứ vì khi lập phương án bồi thường đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu Ban QLDA bồi thường di dân TĐC tỉnh (Này là ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình NN&PTNT) đã niêm yết công khai phương án và Quyết định thì gia đình ông đã nhất trí với phương án. Ngoài ra trước khi tích nước lòng hồ Thủy điện Lai Châu. Ban cùng đơn vị tư vấn đo đạc đã phối hợp với các trưởng các bản, UBND xã, địa chính xã tổ chức cho nhân dân kiểm tra số liệu về đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu và ký biên bản với Ban và đơn vị tư vấn đo đạc là đầy đủ trước khi nước ngập. Nhưng đến nay gia đình vẫn có kiến nghị phản ánh thiếu diện tích đất dưới cos ngập lòng hồ Thủy điện Lai Châu là không có cơ sở nên Ban không giải quyết.

b) Cử tri Phan Văn Thức bản Mường Mô, Mường Mô kiến nghị: Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh giải quyết dứt điểm việc đền bù các diện tích đất trên cos ngập cho 152 hộ TĐC tự nguyện trên địa bàn xã. Hiện nay, số diện tích đất đó đã được đo đạc, kiểm đếm nên các hộ đó quản lý không cho ai xâm phạm, do chưa được giải quyết dứt điểm nên dẫn đến việc các hộ TĐC tự nguyện gây cản trở việc sản xuất của các hộ dân sở tại.

Trả lời: Hiện nay số diện tích đất và TSVKT cây cối hoa màu của các hộ dân TĐC tự nguyện và tập chung đô thị huyện Nậm Nhùn trên địa bàn xã Mường Mô, đã được Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đo đếm đầy đủ và đang trong quá trình thực hiện các thủ tục bồi thường cho các hộ dân. Sau khi thực hiện xong phương án bồi thường cho các hộ dân. Khi nào chi trả tiền đền bù cho các hộ xong, Ban sẽ tiến hành bàn giao lại cho UBND xã Mường Mô số diện tích đã thu hồi để UBND xã quản lý theo quy định của Pháp luật. Khi chưa bàn giao cho xã quản lý thì các hộ sở tại không được vào đó sản xuất.

c) Cử tri Lò Thị Dui, bản Mường Mô, Mường Mô kiến nghị: Bà chưa đồng thuận với ý kiển trả lời của Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tinht đối với ý kiến của gia đình bà tại lần tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 7 HĐND tỉnh khóa XIV. Đề nghị Ban tiếp tục kiểm tra, rà soát lại diện tích đất nương của hộ gia đình bà tại thời điểm đo đạc và ký hồ sơ là 4 ha nhưng mới thanh toán 2,5 ha; gia đình bà thấy thiếu nên đã có ý kiến và Ban trả lời là sẽ bổ sung. Tuy nhiên, đến nay Ban vẫn chưa thanh toán đầy đủ số diện tích thiếu cho gia đình bàn.

Trả lời:

- Gia đình đề nghị Ban kiểm tra rà soát phần diện tích đất sản xuất dưới cos ngập còn thiếu. Sau khi kiểm tra hồ sơ liên quan gia đình bà có 29.917,2 m2 diện tích đất sản xuất dưới cos ngập được thu hồi tại các Quyết định cụ thể như sau: Quyết định thu hồi đất số 1541/QĐ-UBND ngày 25/11/2014 của UBND huyện Nậm Nhùn với tổng diện tích 4.743,1 m2 trong đó: Đất trồng lúa nước 2 vụ 3.596 m2, đất nuôi trồng thủy sản là586,1 m2, đất trồng cây hàng năm khác 561 m2.

- Tại Quyết định thu hồi số 1250/QĐ-UBND ngày 08/9/2015 của UBND huyện Nậm Nhùn với tổng diện tích đất nương rẫy của bà là 25.174,1 m2.

- Trên cơ sở các Quyết định thu hồi của UBND huyện Nậm nhùn, Ban QLDA bồi thường di dân TĐC tỉnh đã phê duyệt phương án bồi thường bù chênh lệch đất tại Quyết định số 750/QĐ-BQLDA ngày 18/12/2015 đã chi trả đầy đủ cho gia đình Bà với tổng số tiền là 538.352.800 đồng. Tuy nhiên bà kiến nghị mới được thanh toán 2,5 ha là không đúng, Ban chỉ lập phương án bồi thường trên cơ sở các Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Nậm Nhùn. Phần diện tích đất mà gia đình bà kiến nghị còn thiếu không có trong các Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Nậm Nhùn. Mặt khác Ban QLDA bồi thường di dân TĐC tỉnh (Này là ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình NN&PTNT) đã niêm yết công khai phương án và Quyết định phê duyệt phương án thì gia đình bà đã nhất trí với phương án. Ngoài ra trước khi tích nước lòng hồ Thủy điện Lai Châu, Ban cùng đơn vị tư vấn đo đạc đã phối hợp với các trưởng các bản, UBND xã, địa chính xã tổ chức cho nhân dân kiểm tra số liệu về đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu và ký biên bản với ban và đơn vị tư vấn đo đạc là đầy đủ trước khi nước ngập. Nhưng đến nay gia đình vẫn có kiến nghị phản ánh thiếu diện tích đất dưới cos ngập lòng hồ Thủy điện là không có cơ sở nên Ban không giải quyết.

d) Cử tri Lò Văn Kiệp, Phó Bí thư Đảng ủy xã Mường Mô kiến nghị: Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đẩy nhanh tiến độ làm đường vào bản Hát Mé, xã Mường Mô.

Trả lời: Hiện nay Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã chỉ đạo nhà thầu vào thi công theo đúng tiến độ của dự án.

VII. THÀNH PHỐ LAI CHÂU

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 301/BC-UBND ngày 12/10/2018)

Cử tri tổ 22, 24, phường Đông Phong kiến nghị:Ngày 25/12/2013, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1766/QĐ-UBND về quy hoạch chi tiết khu dân cư phía Đông Nam thị xã Lai Châu (nay là Thành phố Lai Châu), với diện tích quy hoạch là 60 ha, đề nghị UBND tỉnh trả lời, hiện nay còn quy hoạch hay có điều chỉnh hay không? Tại khu vực này Nhân dân có được xây dựng cơ sở hạ tầng như: Nhà ở, đường bê tông, chuồng trại, đầu tư đường điện, đường nước...; có được chuyển đổi mục đích sử dụng đất không?

Trả lời: Đến nay tỉnh vẫn đang triển khai thực hiện quy hoạch theo Quyết định số 1766/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch còn một số vướng mắc cần thiết phải điều chỉnh, UBND tỉnh đã có Văn bản số 500/UBND-XD ngày 16/4/2018 về việc giao nhiệm vụ tổ chức lập các đồ án quy hoạch xây dựng, trong đó giao Sở Xây dựng chủ trì lập đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Lai Châu đến năm 2030, tầm nhìn 2050; trong quá trình triển khai lập quy hoạch điều chỉnh, Sở Xây dựng phối hợp với UBND thành phố Lai Châu sẽ tiến hành lấy ý kiến cộng đồng dân cư trong vùng quy hoạch cho phù hợp với thực tế, định hướng quy hoạch và đúng với các quy định hiện hành.

Đối với khu vực quy hoạch là đất ở hiện trạng cải tạo thì được phép xây dựng khi cấp có thẩm quyền thẩm định và cấp phép xây dựng.

Đối với các khu vực quy hoạch là đất ở mới, đất công cộng, cây xanh, hệ thống hạ tầng thì chỉ được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng có thời hạn (khi nhà nước thu hồi thì hộ gia đình, cá nhân phải hoàn trả lại mặt bằng và không được bồi thường vật kiến trúc trên đất).

2. Ban QLDA ĐTXD các công trình Nông nghiệp và PTNT trả lời (tại Báo cáo số 1303/BC-BQLDA ngày 20/9/2018)

a) Ý kiến chung của 315 hộ gia đình tổ 25 và tổ 26 phường Đông Phong kiến nghị: Đề nghị tỉnh Lai Châu xem xét có ý kiến với tỉnh Điện Biên sớm giải quyết tiền hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho tất cả các hộ dân tái định cư thủy điện Sơn La kê cả các hộ là lao động tự do cũng như hộ kinh doanh.

Trả lời: Đến nay Ban đã giải quyết chế độ hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho các hộ nông nghiệp là đúng chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước còn việc các hộ đề nghị Tỉnh Lai Châu có ý kiến với tỉnh Điện Biên là vượt thẩm quyền giải quyết của Ban.

b) Ý kiến chung của Bí thư, Tổ trưởng, các chi trưởng, công an viên… phường Đông Phong đề nghị Tỉnh Lai Châu xem xét sớm chi trả tiền hỗ trợ phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách như Bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, các chi trưởng, công an viên… di chuyển về nơi ở mới. Cử tri đề nghị nếu UBND tỉnh Lai Châu không giải quyết được thì giới thiệu để các cử tri sang tỉnh Điện Biên kiến nghị để giải quyết.

Trả lời: Căn cứ theo Quyết định Số: 09/2013/QĐ-UBND ngày 10/6/2013 của UBND tỉnh Lai Châu V/v ban hành một số nội dung cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thủy điện Sơn La, Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Theo Khoản 4 Điều 14. Hỗ trợ khác (cụ thể Điều 31 Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg) Hỗ trợ 6 tháng lương hoặc phụ cấp lương đối với cán bộ giữ chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể đang hưởng lương hoặc phụ cấp lương do Nhà nước chi trả ở nơi đi, khi chuyển đến nơi ở mới không còn giữ chức vụ đó nữa. Mức hỗ trợ tương đương với mức lương hoặc phụ cấp mà cán bộ đó đang hưởng hàng tháng ở nơi đi.Mức hỗ trợ trên được thanh toán một lần và do nơi đi chi trả. Như vậy khoản hỗ trợ này do UBND tỉnh Điện Biên (nơi đi) giải quyết.

c) Ông Nguyễn Văn Bảy tổ dân phố số 25 phường Đông Phong kiến nghị: Đề nghị tỉnh Lai Châu có ý kiến với tỉnh Điện Biên xem xét lại việc đền bù, hỗ trợ cho gia đình.

- Gia đình có 01 ha rừng giấy chứng nhận sử dụng là 50 năm nhưng lại không được đền bù mà được tính tiền công phát rừng và trồng cây vì lý do đây là đất rừng 327, đúng ra phải được khai thác hưởng 80% và nhà nước hưởng 20%.

- Gia đình có 03 khẩu 2 vợ chồng hưu trí, 01 con trai nhưng chỉ được hỗ trợ tiền làm nhà 02 khẩu, còn thiếu 01 khẩu.

- Do chưa có nhà ở, gia đình được mượn 03 gian nhà ở nhưng khi giải tỏa chỉ được đền bù 60% trong khi đó văn bản ghi là cho đúng ra phải được hưởng 100%.

Trả lời:

- Về ý kiến kiến nghị thứ nhất của ông Nguyễn Văn Bảy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban, đề nghị ông kiến nghị với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

- Về ý kiến kiến nghị thứ hai của ông, sau khi kiểm tra hồ sơ di dân do UBND tỉnh Điện Biên chuyển đến thì gia đình ông chỉ có 02 khẩu nên chúng tôi đã hỗ hỗ trợ tiền làm nhà cho 02 khẩu là đúng chế độ chính sách.

- Về ý kiến kiến nghị thứ ba của ông Nguyễn Văn Bảy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban, đề nghị ông kiến nghị với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

d) Ông Lò Văn Sao tổ 25 phường Đông Phong kiến nghị: Gia đình có 04 ngôi mộ ở trên rừng nhưng tại sao không được bồi thường, không rõ lý do. Đề nghị làm rõ và trả lời cho gia đình.

Trả lời: Việc ông kiến nghị còn thiếu 04 ngôi mộ chưa được bồi thường ở nơi đi không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban, đề nghị ông liên hệ với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

e) Ông Nguyễn Văn Dũng, Bà Nguyễn Thị Tươi, Bà Trần Thị Thu Hiền tổ 25 phường Đông Phong kiến nghị: Khi gia đình di chuyển thì được đền bù 80%, gia đình thắc mắc thì cô Nguyễn Thị Khương- Trưởng Ban QLDA TĐC thị xã Mường Lay, có nói điều chỉnh sau nhưng đến nay chưa được đền bù thêm 100%. Đề nghị Tỉnh Điện Biên trả lời cụ thể cho cử tri được biết lý do vì sao đến nay gia đình chưa nhận tiền đền bù.

Trả lời: Đối với ý kiến của các cử tri không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu. Đề nghị các cử tri trên liên hệ trược tiếp với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

f) Bà Nguyễn Thị Thái, tổ dân phố số 25 phường Đông Phong kiến nghị: Gia đình chưa được nhận chế độ chất đốt đợt 2 và đợt 3, tiền vận chuyển nhà tạm, tiền hỗ trợ gạo của 2 mẹ con, đề nghị cấp trên xem xét.

Trả lời: Về chế độ hỗ trợ chất đốt gia đình bà đã được hưởng đầy đủ và chia làm 2 đợt chứ không có đợt 3 như bà kiến nghị, tiền vận chuyển làm nhà tạm Ban QLDA bồi thường di dân tái định cư tỉnh Lai Châu không thực hiện nội dung hỗ trợ này đề nghị bà liên hệ và kiến nghị với UBND tỉnh Điện Biên để được giải quyết. Tiền hỗ trợ gạo của 2 mẹ con bà đã được Ban QLDA bồi thường di dân tái định cư tỉnh Lai Châu hỗ trợ và chi trả đầy đủ.

g) Ông Trần Như Đào, tổ dân phố số 25 phường Đông Phong kiến nghị: Tiền đất liền kề của gia đình là 20 triệu nhưng thực tế mới nhận được 11 triệu gia đình có hỏi nhưng bên Mường Lay không chi trả tiếp không rõ lý do, đề nghị được làm rõ.

Trả lời: Đối với ý kiến, kiến nghị của ông Trần Như Đào không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu. Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

h) Ông Đỗ Văn Viết, tổ dân phố số 26 phường Đông Phong kiến nghị: Gia đình chưa được thanh toán 01 cái quán ở chợ cơ khí, 07 cây cảnh và tiền đất tổng số tiền là 22 triệu đồng. Đề nghị tỉnh Điện Biên thanh toán nốt cho gia đình.

Trả lời: Đối với ý kiến, kiến nghị của ông Đỗ Văn Viết không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu. Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

i) Bà Nguyễn Thị Hạnh, tổ dân phố số 25 phường Đông Phong kiến nghị: Gia đình còn thiếu 20% tiền nhà và cây cối hoa màu và thiếu tiền chuyển đổi ngành nghề và gia đình chưa rõ việc Nhà nước đã thu của gia đình 45 triệu đồng tiền đất.

Trả lời: Việc bà Hạnh kiến nghị còn thiếu 20% tiền nhà và cây cối hoa màu và chưa rõ việc Nhà nước đã thu của gia đình 45 triệu đồng tiền đất đề nghị bà Nguyễn Thị Hạnh liên hệ với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết. Việc bà kiến nghị thiếu tiền chuyển đổi ngành nghề là không đúng vì gia đình bà không thuộc đối tượng được hưởng chế độ chuyển đổi ngành nghề.

k) Ông Lê Thành Biên, tổ dân phố số 26 phường Đông Phong kiến nghị: Là gia đình chính sách (Thương binh) theo quy định được hỗ trợ di chuyển 5 triệu đồng nhưng đến nay chưa nhận tiền hỗ trợ. Đề nghị cấp trên xem xét.

Trả lời: Căn cứ theo Quyết định Số: 09/2013/QĐ-UBNDngày 10 tháng 6 năm 2013của UBND tỉnh Lai ChâuV/v ban hành một số nội dung cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thủy điện Sơn La, Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Theo Điều 12. Hỗ trợ gia đình chính sách(cụ thể Điều 28 Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg và Khoản 4 Điều 12 Quyết định 34/2010/QĐ-TTg)

Hộ tái định cư có người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước theo quy định tại Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ phải di chuyển thì được hỗ trợ một lần là 2.000.000đồng/người hưởng trợ cấp và do nơi đi chi trả. Như vậy trường hợp của ông là (nơi đi) UBND tỉnh Điện Biên thực hiện. Đề nghị ông liên hệ trược tiếp với UBND tỉnh Điện Biên để được xem xét giải quyết.

3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số 957/BC-SNN ngày 12/9/2018)

Cửtri xã Nậm Lỏong và xã San Thàng kiến nghị: Nhân dân 02 xã Nậm Lỏong, San Thàng lâu nay canh tác (trồng lúa, ngô, chè, đậu tương,...) trên diện tích xâm canh của các xã thuộc huyện Phong Thổ, Tam Đường, nay Nhân dân muốn đăng ký chuyển đổi sang trồng cây Mắc ca nhưng sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị phải lấy giống tại 2 huyện Phong Thổ, Tam Đường; trong khi Nhân dân huyện Tam Đường xâm canh (480ha) và huyện Phong Thổ (50ha) trên địa bàn Thành phố Lai Châu nhưng vẫn được lấy giống tại huyện để canh tác. Đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân 02 xã sản xuất.

Trả lời:

Ngày 13/7/2018, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên & Môi trường và UBND thành phố Lai Châu tổ chức thẩm định hồ sơ dự án phát triển cây Mắc ca tập trung trên địa bàn thành phố Lai Châu, giai đoạn 2018 - 2021. Trong hồ sơ dự án, một phần diện tích thuộc địa giới hành chính của huyện Tam Đường và huyện Phong Thổ.

Căn cứ Văn bản số 584/STC-NS ngày 05/7/2017 của Sở Tài Chính gửi UBND thành phố Lai Châu về việc giải quyết một số vướng mắc khi thực hiện Quyết định số 29/2016/QĐ-UBND ngày 30/8/2016 của UBND tỉnh Lai Châu. Trong đó có nêu “Đối với các hộ gia đình, cá nhân đã sản xuất và canh tác ổn định trên diện tích đất đã giao nhưng do phân định lại địa giới hành chính khi chia tách, thành lập đơn vị hành chính mới hoặc xâm canh (nếu có) thì UBND các huyện, thành phố chỉ thực hiện hỗ trợ trong phạm vi diện tích đất canh tác thuộc địa phương quản lý. Các hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu hỗ trợ sản xuất nông nghiệp đăng ký với UBND cấp xã nơi có đất canh tác, sản xuất. UBND cấp xã tổng hợp trình UBND cấp huyện phê duyệt để thực hiện”.

Theo quy định tại Khoản 9, Điều 9, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, quy định “Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác”.

Để việc thực hiện tránh chồng chéo, tránh việc tranh chấp, khiếu kiện và đảm bảo việc thanh quyết toán nguồn vốn hỗ trợ sản xuất theo đúng quy định. Tại cuộc họp thẩm định ngày 13/7/2018 thẩm định hồ sơ dự án phát triển cây Mắc ca tập trung trên địa bàn thành phố Lai Châu, giai đoạn 2018 - 2021. Hội đồng thẩm định đề nghị UBND thành phố làm việc thống nhất với UBND các huyện Tam Đường, Phong Thổ và báo cáo UBND tỉnh xem xét cho chủ trương triển khai thực hiện.

VIII. HUYỆN MƯỜNG TÈ

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 301/BC-UBND ngày 12/10/2018)

a) Cử tri xã Can Hồ kiến nghị:Hiện nay xã Can Hồ có 04 sinh viên đều là người dân tộc Si La đã tốt nghiệp Đại học, trong đó 03 sinh viên học hệ cử tuyển, gồm: Lý Chà Biên - Đại học Kế toán; Pờ Cố Thơm, Pờ Cố Ngợi, Pờ Thu Hà - Đại học Luật (Cử tuyển) nhưng chưa được bố trí việc làm; để thực hiện Quyết định 1168/QĐ-UBND, ngày 03/10/2017 của UBND tỉnh Lai Châu về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội dân tộc Lự và Si La trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 2017 - 2025. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có kế hoạch tuyển dụng số sinh viên trên vào công chức.

Trả lời: Thực hiện Thông báo số 171-TB/VPTU ngày 21/8/2018 của Văn phòng Tỉnh uỷ Lai Châu về kết luận của Thường trực Tỉnh uỷ tại cuộc họp ngày 20/8/2018, trong đó đồng ý chủ trương xét tuyển số sinh viên cử tuyển hiện có của tỉnh có chuyên môn đào tạo phù hợp với vị trí việc làm hiện còn thiếu ở các sở, ngành và các huyện, thành phố. Sau khi tổng hợp số lượng biên chế còn thiếu của các cơ quan, đơn vị, UBND tỉnh sẽ ban hành kế hoạch xét tuyển chung đối với số sinh viên cử tuyển đã tốt nghiệp ra trường.

b) Cử tri là công chức, viên chức cấp huyện, xã trên địa bàn huyện Mường Tè kiến nghị: Ngày 25/5/2018 UBND tỉnh đã ban hành văn bản số 711/UBND-VX về việc hướng dẫn quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, trong đó có giao cho Sở Nội vụ chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu cho UBND tỉnh hướng dẫn quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh, đề nghị UBND tỉnh sớm có văn bản hướng dẫn để công chức, viên chức yên tâm công tác.

Trả lời: Ngày 29/8/2018, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 995/QĐ-UBND về việc quy định quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

c) Cử tri xã Bum Nưa kiến nghị: UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn kiểm tra, đánh giá ảnh hưởng của thủy điện Nậm Nghẹ đến ruộng của Nhân dân xã Bum Nưa. Hiện nay, đất đá từ khu vực thủy điện trôi xuống khu ruộng của xã, ảnh hưởng rất nhiều đến diện tích ruộng của Nhân dân nhưng chưa được kiểm đếm, đền bù (Trước kỳ họp thứ bảy HĐND tỉnh, cử tri đã kiến nghị nhưng Công ty Điện lực Lai Châu mới trả lời phần ảnh hưởng và đền bù đối với địa phận xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn).

Trả lời: Ngày 12/9/2018, Công ty Điện lực Lai Châu đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường làm việc với chính quyền xã Bum Nưa và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường Tè cùng đại diện các bản Nà Hừ 1, Nà Hừ 2 về việc ảnh hưởng của đất đá từ khu vực thuỷ điện Nậm Nghẹ đến ruộng của Nhân dân xã Bum Nưa.

Kết quả, từ ngày 31/12/2017 các công việc chính của dự án Thuỷ điện Nậm Nghẹ đã hoàn thành. Từ đó đến nay Công ty Điện lực Lai Châu chỉ tiến hành lắp máy, thí nghiệm và hiệu chỉnh thiết bị để chuẩn bị công tác phát điện. Do vậy dự án không phát sinh đất đá thải. Do đó nguyên nhân gây ảnh hưởng đến diện tích đất ruộng của người dân xã Bum Nưa chủ yếu do tác động của biến đổi khí hậu, mưa lớn kéo dàiđã gây ra sạt lở đất, làm vùi lấp diện tích ruộng canh tác của Nhân dân. UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai cho các hộ gia đình bị mất đất sản xuất theo quy định.

d) Cử tri thị trấn Mường Tè kiến nghị:UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn sớm xem xét, kiểm tra thực tế cho các hộ gia đình tại khu phố 9, 10, thị trấn Mường Tè, trước đây không được di dân tái định cư vì xác định là nằm trên cos ngập, nhưng hiện nay nước lòng hồ thủy điện dâng cao chưa hết cos, nước đã dâng sát nhà một số hộ, mép nước cách nhà khoảng 1m - 1,5m; ca nô, thuyền chạy sóng vỗ làm đất lở và sụt lún nhiều; nếu để kéo dài sẽ gây ra sạt lở, trôi nhà cửa, ruộng vườn. Đề nghị UBND tỉnh xem xét có phương án cho tái định cư nơi ở khác để đảm bảo an toàn về tính mạng, tài sản của Nhân dân.

Trả lời: UBND tỉnh tiếp thu ý kiến của cử tri và sẽ chỉ đạo Ban Quản lý dự án Thuỷ điện Lai Châu phối hợp với UBND huyện Mường Tè để kiểm tra lại cos ngập và nguy cơ sạt lở tại khu phố 9, 10, đề xuất giải pháp giải quyết đảm bảo an toàn cho các hộ dân. Trước mắt giao UBND huyện Mường Tè chỉ đạo cơ quan chức năng quản lý tốt hoạt động của các phương tiện đường thuỷ, cắm biển báo hạn chế tốc độ phương tiện trên tuyến,... để giảm thiểu tình trạng sóng vỗ làm sạt lở bờ...

B. NỘI DUNG TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI TRƯỚC KỲ HỌP THỨ TÁM HĐND TỈNH

I. HUYỆN PHONG THỔ

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

a) Cử tri xã Ma Ly Chải kiến nghị: UBND tỉnh xem xét tăng mức chi hỗ trợ đối với Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư theo Thông tư liên tịch số 144/2014/TTLT-BTC-BVHTTDL ngày 30/9/2014 của Bộ Tài chính-Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để Khu dân cư để tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”. Hiện nay với mức hỗ trợ 3.000.000 đồng/khu dân/năm là quá ít, không đủ kinh phí để tổ chức các hoạt động trong ngày hội.

Trả lời: Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 121/2017/TT-BTC ngày 15/11/2017 quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, thay thế Thông tư liên tịch số 144/2014/TTLT-BTC-BVHTTDL ngày 30/9/2014 của Bộ Tài chính - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Đến nay, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh dự kiến mức chi hỗ trợ đối với Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư thực hiện cuộc vận động và các phong trào được phát động ở địa phương, cụ thể được tăng lên các mức tương ứng như sau:

- Khu dân cư có quy mô trên 300 hộ dân: Mức hỗ trợ là 5 triệu đòng/năm/khu dân cư.

- Khu dân cư có quy mô từ 100 hộ đến 300 hộ dân: Mức hỗ trợ là 4,5 triệu đòng/năm/khu dân cư.

- Khu dân cư có quy mô dưới 100 hộ dân: Mức hỗ trợ là 4 triệu đồng/năm/khu dân cư.

- Đối với khu dân cư của xã thuộc vùng khó khăn theo quy định, ngoài mức hỗ trợ nêu trên thì được bố trí thêm 01 triệu đồng/năm/khu dân cư.

b) Cử tri Thị trấn Phong Thổ kiến nghị:UBND tỉnh xem xét cho chủ trương đổi tên thôn, bản thành tổ dân phố phù hợp với tên gọi khu dân cư đô thị trên địa bàn thị trấn Phong Thổ (UBND huyện đã có Tờ trình số 54/TTr-UBND ngày 29/3/2017 về việc xin chủ trương đổi tên thôn, bản thành tổ dân phố).

Trả lời:

Tại Tờ trình số 54/TTr-UBND ngày 29/3/2017 của UBND huyện Phong Thổ đề nghị các Thôn 41 (275 hộ), thôn Pa So (236 hộ), thôn Hữu Nghị (228 hộ) để thành lập tổ dân phố thuộc thị trấn Phong Thổ. Đối chiếu theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 09/2017/TT-BNV, quy mô số hộ gia đình của tổ dân phố khu vực miền núi là 300 hộ, do đó các thôn Pa So, Hữu Nghị, thôn 41 không đủ điều kiện để thành lập Tổ dân phố.

2. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Báo cáo số 1511/BC-SGTVT ngày 30/11/2018)

Cử tri xã Nậm Xe kiến nghị: Trên tuyến đường Mường So - Thèn Sin, đơn vị quản lý đường bộ làm hành lang an toàn giao thông ảnh hưởng đến hoa màu và diện tích đất nông nghiệp của người dân bản Dền Thàng nhưng chưa được đền bù. Đề nghị Sở Giao thông vận tải đo đạc diện tích bị ảnh hưởng và tính toán đền bù cho các hộ dân.

Trả lời:Tuyến đường Mường So - Thèn Sin (nay là ĐT.130). Trước khi Sở Giao thông vận tải nhận bàn giao quản lý, đất đường bộ và đất hành lang an toànđường bộ đã bị một số hộ dân lấn chiếm. Sở Giao thông vận tải đã phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền,vận động người dân tự di dời để trả lại đất đường bộ, hành lang an toàn đường bộ, nhưng người dân không thực hiện. Sở GTVT đã chỉ đạo cácđơn vị liên quan phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện công tác giải tỏa phạm vi đất đường bộ do dân lấn chiếm, trong quá trình thực hiện không làm ảnh hưởng đến hoa màu và diện tích đất nông nghiệp của người dân.

3. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội trả lời (tại Công văn số 1165/SLĐTBXH - NCC ngày 29/11/2018)

a) Cử tri bản Dền Thàng, xã Nậm Xe kiến nghị: Bản Dền Thàng có 04 công dân xuất khẩu lao động sang Ả rập xê út theo hợp đồng với Công ty Hùng Vương, gồm: Phàn Xa Hà, Phàn Xa Hồng, Chang Xa Thơm, Chang Thị Mai. Tuy nhiên Công ty Hùng Vương không thực hiện đúng như đã hứa, gia đình các lao động không nhận được tiền hỗ trợ như cam kết của Công ty; bản thân các lao động làm việc tại Ả rập xê út chưa nhận được tiền lương như cam kết và bị chủ sử dụng lao động đánh đập. Các lao động này có nguyện vọng muốn chấm dứt hợp đồng lao động để trở về nước. Đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét, giải quyết, giúp đỡ.

Trả lời:

Sau khi nhận được văn bản của HĐND tỉnh, ngày 26/11/2018 Sở Lao động - TBXH đã ban hành văn bản số1133/SLĐTBXH-CSLĐVL về việc yêu cầu xác minh giải quyết kiến nghị của người lao động tham gia xuất khẩu lao động tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu dịch vụ và Du lịch Hùng Vương.Sau khi phối hợp với Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu dịch vụ và Du lịch Hùng Vương xác minh, Sở Lao động - TBXH trả lời cụ thể như sau:

- Tiền hỗ trợ của lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài: Tât cả 04 lao động Bản Dền Thàng, gồm: Phàn Xa Hà, Phàn Xa Hồng, Chang Xa Thơm, Chang Thị Mai đã được Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu dịch vụ và Du lịch Hùng Vương thanh toán và nhận đủ số tiền 15.000.000 đồng như đã cam kết (có bản chụp nhận tiền kèm theo).

- Về tiền lương: Lao động đều được chủ sử dụng lao động trả lương theo đúng như hợp đồng đã ký là 1.500 SR/tháng. Cụ thể:

+ Lao động Chàng Thị Thơm: đã nhận lương 03 tháng và gửi về cho chồng tại Việt Nam là Tẩn A Vinh (có phiếu chuyển tiền kèm theo).

+ Lao động Phàn Thị Hồng: Đã nhận lương 05 tháng; trong đó: 02 tháng lương đã gửi về cho chồng tại Việt Nam, 03 tháng lương lao động hiện đang giữ (phiếu gửi tiền do gia đình lao động giữ).

+ Lao động Chàng Thị Mai: Đã nhận 03 tháng lương, hiện đang giữ.

+ Lao động Phàn Xa Hà: Đã nhận 02 tháng lương, sau khi nhận lương lao động đã bỏ trốn ra ngoài. Theo phản ánh của Công ty, lao động Phàn Xa Hà cùng với một số lao động Việt Nam sống lưu vong bất hợp pháp tại Ả rập xê út có dấu hiệu cấu kết, tổ chức kêu gọi các lao động Việt Nam đang làm việc trốn ra ngoài.

- Vấn đề chủ sử dụng ngược đãi, đánh đập: Phía Công ty đã nhờ môi giới và người đại diện của công ty tại Ả rập xê út xác minh và kiểm tra nhưng không có việc chủ sử dụng lao động đánh đập, ngược đã người lao động.

b) Cử tri thị trấn Phong Thổ kiến nghị:Bà Lê Thị Thắng có chồng là liệt sỹ tuy nhiên do trước đây bà không đăng ký kết hôn tại chính quyền cơ sở mà chỉ có xác nhận của Lâm trường Phong Thổ nên Sở Lao động - Thương binh xã hội trả lời không đủ căn cứ xác định Bà là vợ liệt sĩ. Đề nghị Sở Lao động Thương binh và Xã hội xem xét, xác minh giúp đỡ bà Lê Thị Thắng được hưởng chế độ chính sách vợ liệt sỹ.

Trả lời:

Sở Lao động-TBXH tỉnh Lai Châu trả lời như sau: Theo nội dung đơn của bà nêu "Năm 1978 bà kết hôn với ông Lò Văn Tấn cùng làm công nhân lâm trường-Phong Thổ thuộc Ty lâm nghiệp tỉnh Lai Châu (cũ). Năm 1979 ông Lò Văn Tấn tham gia chiến tranh bảo vệ biên giới bị thương, hy sinh ngày 18/02/1979 tại trạm phẫu tiền Phương, Phong Thổ, Lai Châu. Căn cứ vào hồ sơ của liệt sĩ Lò Văn Tấn do Sở Lao động-TBXH đang quản lý tại thời điểm lập hồ sơ để công nhận liệt sĩ do Ty lâm nghiệp tỉnh Lai Châu (cũ) lập trong Giấy chứng nhận hy sinh số 431/LN ngày 29/8/1979 tại mục tình hình thân nhân của liệt sĩ không có tên của bà Lò Thị Thắng, chỉ có ông Nông Văn Xìn, bà Thùng Thị Vàng quan hệ với liệt sĩ Lò Văn Tấn (chú thím ruột). Qúa trình hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các chế độ chính sách trợ cấp đối với thân nhân liệt sĩ do UBND thị trấn Phong Thổ (cũ) xác lập ngày 08/12/1979, ngày 22/9/1983 đều không có tên của bà Lò Thị Thắng, chỉ có tên của bà Phàn Thị Nộp (mẹ đẻ liệt sĩ).

Như vậy các thông tin trong đơn đề nghị hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ hàng tháng của bà Lò Thị Thắng với hồ sơ liệt sĩ Lò Văn Tấn do Sở Lao động-TBXH quản lý chưa thể hiện được mối quan hệ của bà là vợ của liệt sĩ Lò Văn Tấn nên Sở Lao động-TBXH chưa đủ điều kiện giải quyết. Sở Lao động-TBXH đã trả lời đơn đề nghị bà Thắng tại Công văn số 137/SLĐTBXH-NCC ngày 14/3/2012 và Công văn số 1031/SLĐTBXH-NCC ngày 29/10/2018.

Sở Lao động-TBXH đã có Công văn số 1139/SLĐTBXH-NCC ngày 26/11/2018 đề nghị UBND huyện Phòng Thổ chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn của huyện, UBND thị trấn Phong Thổ kiểm tra, xác minh về mối quan hệ của bà Thắng với liệt sĩ Lò Văn Tấn, nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp thì hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ để giải quyết, trong trường hợp không đủ điều kiện thông báo để đối tượng được biết.

c) Cử tri Điêu Văn Tuyển, trú tại Thị trấn Phong Thổ (là bạn chiến đấu với ông Lò Văn Ộ) kiến nghị: Ông Lò Văn Ộ, trú tại bản Chiềng Chăn, xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ tham gia kháng chiến và hi sinh, gia đình đã đề nghị nhưng đến nay chưa được hưởng chính sách, đề nghị Sở Lao động Thương binh và Xã hội xem xét giải quyết chế độ chính sách cho người thân của ông Lò Văn Ộ.

Trả lời: Sau khi nhận được ý kiến, kiến nghị của Ông Điêu Văn Tuyển. Sở Lao động-TBXH đã phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh rà soát, kiểm tra cho thấy quân nhân ông Lò Văn Ộ tham gia kháng chiến thuộc đối tượng dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp được hưởng chế độ trợ cấp 01 lần theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2016 thân nhân của ông Lò Văn Ộ hoàn thiện hồ sơ và được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổng hợp trình Bộ Tư lệnh quân khu 2, ký ban hành Quyết định số 1156/QĐ-BTL ngày 07/12/2018 trong danh sách trợ cấp có tên ông Lò Văn Ộ (đã từ trần), thời gian tham gia dân công hỏa tuyến là 08 tháng, kinh phí trợ cấp một lần là: 2.000.000đồng, thân nhân của ông Lò Văn Ộ đã được Ban chỉ huy quân sự huyện Sìn Hồ chi trả trợ cấp theo quy định.

II. HUYỆN SÌN HỒ

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

Cử tri huyện Sìn Hồ kiến nghị: Ngày 16/9/2015, Liên bộ: Giáo dục và Đào tạo-Bộ Nội vụ đã ban hành 03 Thông tư liên tịch (Thông tư liên tịch các số 21, 22, 23/2015/TTLT-BGGĐT-BNV) quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông công lập. Trong văn bản quy định rõ yêu cầu về “chứng chỉ ngoại ngữ” theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với giáo viên từng cấp.Cử tri kiến nghị UBND tỉnh có ý kiến với Chính phủ xem xét không quy định đối với giáo viên đang công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như huyện Sìn Hồ, vì giáo viên đã có chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số, việc quy định phải có chứng chỉ Tiếng Anh là không thiết thực và gây lãng phí.

Trả lời: UBND tỉnh tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri. Tuy nhiên, việc quy định chứng chỉ ngoại ngữ theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức do các Bộ, ngành Trung ương ban hành được quy định chung trên cả nước, không có quy định riêng cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng công tác tại vùng dân tộc.

2. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 3442/PCLC-TTBVPC ngày 30/11/2018)

Cử tri các xã Nậm Cuổi, Hồng Thu kiến nghị: Công ty Điện lực Lai Châu dựng thêm cột và kéo điện cho các nhóm hộ mới phát sinh tại các bản: Hua Cuổi, Ná Lạnh, Nậm Cọ, Pú Mạ, Nậm Hoi, Cuổi Nưa, Cuổi Tở 1, 2, Nậm Cóong 1, 2, xã Nậm Cuổi và bản Xà Chải 1, xã Hồng Thu, nhóm hộ Tà Tâu, Nậm Pậy, Phìn Hồ, Tà Ghênh - xã Phìn Hồ.

Trả lời:

* Cử tri xã Nậm Cuổi: Dựng thêm cột và kéo điện cho các nhóm hộ mới phát sinh tại các bản: Hua Cuổi, Ná Lạnh, Nậm Cọ, Pú Mạ, Nậm Hoi, Cuổi Nưa, Cuổi Tở 1, 2, Nậm Coóng 1, 2

Các bản nêu trên đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Tuy nhiên theo thời gian một số hộ dân mới tách hộ, một số hộ ở không tập trung, hình thành nên nhóm hộ dân mới và nhóm hộ dân này ở xa đường dây 0,4kV hiện có đã tự bỏ chi phí để mua dây đấu nối từ sau công tơ về nhà. Để đảm bảo chất lượng điện áp và an toàn điện trong quá trình sử dụng, về lâu dài cần phải được cải tạo, nâng cấp, mở rộng tuyến đường dây 0,4kV hiện có.

Công ty Điện lực Lai Châu là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Điện lực miền Bắc nên không quyết định được chủ trương và nguồn vốn để thực hiện đầu tư cấp điện cho các hộ dân nêu trên. Công ty Điện lực Lai Châu sẽ tổng hợp báo cáo Tổng công ty Điện lực miền Bắc, nếu được Tổng công ty chấp thuận, bố trí nguồn vốn Công ty Điện lực Lai Châu mới có cơ sở triển khai thực hiện.

* Cử tri xã Hồng Thu: Dựng thêm cột và kéo điện cho các nhóm hộ mới phát sinh tại bản Xà Chải 1

Bản Xà Chải 1 xã Hồng Thu đã có kế hoạch cấp điện bằng dự án “Cấp điện cho các thôn bản chưa có điện tỉnh Lai Châu”. Công ty Điện lực Lai Châu đã yêu cầu nhà thầu xây lắp triển khai thi công cấp điện cho bản Xà Chải và Xà Chải 1, hiện nay nhà thầu xây lắp đang triển khai thi công (đã thi công xong phần móng của ĐZ 35kV và TBA). Tuy nhiên do địa phương đang làm đường bê tông lên bản nên nhà thầu chưa vận chuyển được vật tư, thiết bị để tiếp tục triển khai thi công. Sau khi đường bê tông được hoàn thiện, Công ty Điện lực Lai Châu sẽ yêu cầu nhà thầu xây lắp tập trung nhân lực, vật lực để thi công đóng điện cho bản nêu trên trong thời gian tới.

* Cử tri xã Phìn Hồ: Dựng thêm cột và kéo điện cho các nhóm hộ mới phát sinh tại các nhóm hộ: Tà Tâu, Nậm Pậy, Phìn Hồ, Tà Ghênh

- Nhóm hộ Tà Tâu, nhóm hộ Nậm Pậy thuộc bản Tà Ghênh và các bản Tà Ghênh, Phìn Hồ 1 (bản Phìn Hồ đã có điện lưới quốc gia): Đã có kế hoạch cấp điện bằng dự án “Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 - 2020”, dự án đã được Bộ Công thương phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tại Quyết định số 4295/QĐ-BCT ngày 28/10/2016. Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, dự án chưa được bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

3. Công ty Cao su Lai Châu trả lời (tại Công văn số 324/CSLC-QLKT ngày 03/12/2018)

Cử tri xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ kiến nghị: Công ty cổ phần Cao su Lai Châu chi trả tiền cổ phần cho Nhân dân, Công ty đã hứa 6 -7 năm sẽ chia cổ phần nhưng đến nay đã hơn 10 năm, Nhân dân góp đất trồng cao su mới nhận được 600.000 - 700.000 đ/ha.

Trả lời:

Thực hiện thỏa thuận giữa Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và Tỉnh Lai Châu về việc thỏa thuận phương án “Hộ gia đình, cá nhân góp quyền sử dụng đất để hợp tác kinh doanh với các công ty cổ phần cao su trồng cây cao su chia sản phẩm chia địa bàn tỉnh Lai Châu”kèm theo biên bản số: 2947/BB-CSVN.

Từ năm 2013 đến nay Công ty cổ phần cao su Lai Châu đang triển khai ký kết hợp đồng với người dân góp đất trồng cao su trên địa bàn 2 huyện Sìn Hồ và Phong Thổ. Kết quả đã ký kết hợp đồng được 4.188 hộ dân với 7.666,6 ha, trên tổng số 8.700,63 ha đất góp của người dân đạt 88%.

Theo thỏa thuận hợp đồng: Giá trị sản phẩm mủ cao su tươi được chia của người dân góp đất (năm i) = diện tích đất góp của người dân (năm i) x Năng suất bình quân của toàn Công ty trên tổng diện tích đất năm i (bao gồm đất góp và đất tổ chức thuê trồng cao su) x 10% (cố định suốt thời gian phân chia giá trị sản phẩm) x Giá trị thị trường. Phương thức thanh toán: Công ty thanh toán cho bên góp quyền sử dụng đất bằng tiền mặt mỗi năm 2 lần, lần 1 tạm ứng, lần 2 mới thanh toán (lần 1 trả vào tháng 07, lần 2 trả vào cuối tháng 02 năm sau và trả hết giá trị sản phẩm của cá nhân, hộ gia đình góp đất được phân chia trong năm).

Năm 2016 Công ty cao su lai Châu khai thác thí điểm 71,05 ha sản lượng đạt 28,2 tấn mủ quy khô, năm 2017 Công ty khai thác 1.432,01 ha sản lượng đạt 925,06 tấn mủ quy khô (Tổng sản lượng khai thác năm 2016, 2017 cho năm góp đất 2008 là 309,521; 2009 là 636,403 tấn).

Để có cơ sở chi trả phần trăm giá trị sản phẩm cho người dân góp đất Công ty đã gửi các văn bản xin ý kiến của UBND tỉnh Lai Châu và Tập đoàn công nghiệp cao su Viêt Nam: Báo cáo số 116/BC-CSLC, ngày 03/05/2018 xin ý kiến về diện tích phân chia sản phẩm và giá thành chi trả cho các hộ dân góp đất trồng cao su. Công văn 148/CSLC-KHKD, ngày 30/05/2018 gửi Sở tài chính tỉnh Lai Châu về xin ý kiến về giá sản phẩm mủ cao su tươi được chia cho người dân góp quyền sử dụng đất trồng cao su năm 2008, 2009 cho năm khai thác 2016, 2017.

Ngày 28/05/2018 Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam ban hành Quyết định số 179/QĐ-HĐTVCSVN về việc nguyên tắc xác định giá trị sản phẩm của người dân góp đất trong năm 2017 cho các Công ty cao su miền núi phía Bắc khi đưa vào khai thác, đề xuất giá thị trường năm 2017.

Ngày 05/06/2018 Sở Tài chính tỉnh Lai Châu có văn bản số 402/STC-GCS về việc cho ý kiến về phương án phân chia sản phẩm mủ cao su năm 2016, 2017 cho người dân góp quyền sử dụng đất trồng cao su.

Trên cơ sở các văn bản của Sở Tài chính tỉnh Lai Châu và Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Hội đồng quản trị Công ty ban hành quyết định số 14/QĐ-HĐQTCSLC ngày 06/06/2018 về phê duyệt kinh phí chi trả 10% giá trị sản phẩm mủ khai thác năm 2016, 2017 cho người dân góp đất năm 2008, 2009, với tổng kinh phí chi trả: 2.831.802.368 đồng với diện tích 4.094,24 ha, số hộ chi trả 1.668 hộ. Cụ thể:

Năm góp đất 2008: Tổng diện tích làm cơ sở chi trả là 1.272,2 ha (số hộ đủ điều kiện chi trả 319 hộ tương ứng 1.022,2 ha, còn 250 ha chưa chi trả được cho người dân do thiếu GCNQSDĐ nên Công ty chưa thể soạn thảo hợp đồng). Đơn giá chi trả cho năm khai thác 2016, 2017 = Sản lượng mủ quy khô (khai thác năm 2016, 2017) x đơn giá bán mủ x 10%/tổng diện tích góp đất năm 2008 (309,521 tấn x 29.936.891 đồng x 10%/1.272,2 = 728.352 đồng/ha).

Năm góp đất 2009: Tổng diện tích làm cơ sở chi trả là 2.822,04 ha (số hộ đủ điều kiện chi trả 1.349 hộ tương ứng 2.422,04 ha, còn 400 ha chưa chi trả được cho người dân do thiếu GCNQSDĐ nên Công ty chưa thể soạn thảo hợp đồng). Đơn giá chi trả cho năm khai thác 2017 = Sản lượng mủ quy khô (khai thác năm 2017) x đơn giá bán mủ x 10%/tổng diện tích góp đất năm 2009 (636,403 tấn x 29.936.891 đồng x 10%/2.822,04 = 675.112 đồng/ha).

Những năm đầu khai thác vườn cây cao su chưa cho sản lượng tốt nhất (sản lượng năm thứ nhất đạt khoảng 0,6 tấn/ha/năm, năm thứ 2 đạt khoảng 0,8 tấn/ha/năm), sản lượng tăng dần ở các năm tiếp theo có thể đạt 1,8 – 2 tấn/ha/năm ở năm thứ 6.

Giá bán mủ cao su đang ở mức thấp (giá sàn bình quân mủ SVR10 của Tập đoàn trong năm 2017 là 39.532.075 đồng/tấn).

Tỷ lệ diện tích cao su khai thác được trên diện tích đất góp của người dân ở mức thấp (Diện tích vườn cây 2008 khai thác là 433,91 ha/1.272 ha đất góp, diện tích vườn cây 2009 khai thác là 984,15/2.422,04 ha đất góp). Do một số diện tích là đất dốc, đất sỏi đá không trồng được cao su, đất xấu cây sinh trưởng kém nên phải lùi thời gian khai thác, một số diện tích phải thanh lý trồng lại do bị ảnh hưởng của thiên tai.

Cùng với đó trong công tác ký kết hợp đồng góp đất Công ty còn gặp nhiều khó khăn: Cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ do thiếu GCNQSDĐ, bản đồ địa chính chưa hoàn thiện, người dân vắng mặt do đi làm ăm xa, địa bàn ký kết rộng và lượng hợp đồng ký kết lớn nên ánh hưởng đến công tác tổng hợp số liệu lên phương án chi trả cho người dân. Tuy nhiên, cùng với việc chi trả giá trị sản phẩm mủ cho người dân góp đất, Công ty cổ phần cao su Lai Châu hàng năm còn tạo công ăn việc làm cho hơn 1.000 lao động tại địa phương, với mức lương bình quân từ 3-5 triệu đồng/người/tháng. Người lao động được tham gia bảo hiểm đầy đủ, được hưởng các chế độ chính sách (như đượckhám bệnh hàng năm, tặng nhà mái ấm, trao quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn, ....).  

III. HUYỆN TÂN UYÊN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

a) Cử tri xã Hố Mít, huyện Tân Uyên kiến nghị:Theo tiêu chuẩn về thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo, yêu cầu phải có chứng chỉ ngoại ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại chưa có đơn vị nào đứng ra đào tạo, bồi dưỡng, cấp chứng chỉ trình độ ngoại ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Đề nghị UBND tỉnh kiến nghị với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Trả lời:

Hiện nay, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Công văn số 3755/BGDĐT-GDTX ngày 03/8/2016 về việc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Ngày 29/8/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 995/QĐ-UBND quy định quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong đó có quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ tương đương theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam để phục vụ cho việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn ngạch công chức, hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Trên cơ sở kiến nghị của tỉnh Lai Châu, ngày 28/11/2018, Bộ GD&DT đã có văn bản số 2809/QLCL-QLVBCC về việc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ. Theo đó, việc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ được thực hiện theo Công văn số 3755/BGDĐT-GDTX ngày 03/8/2016 của Bộ.

b) Cử tri là giáo viên Trường Mầm non xã Hố Mít kiến nghị:Trong quá trình thực hiện Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND ngày 30/6/2016 của UBND tỉnh Lai Châu về công bố danh mục tài sản mua sắm tập trung tỉnh Lai Châu còn nhiều bất cập, chưa hợp lý. Cụ thể: Thời gian mua sắm còn chậm muộn, học sinh đi học từ 15/8 nhưng đến 15/10 mới được cấp các trang thiết bị nên không đáp ứng được nhu cầu của trường học. Đề nghị UBND tỉnh tiếp tục nghiên cứu, phân cấp cho phù hợp.

Trả lời: Sau 2 năm thực hiện mua sắm tập trung, UBND tỉnh xét thấy việc mua sắm tập trung còn có một số hạn chế, bất cập. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan đánh giá lại việc triển khai thực hiện mua sắm tập trung, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; tham mưu UBND tỉnh phương án sửa đổi, bổ sung Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND ngày 30/6/2016 của UBND tỉnh về công bố danh mục tài sản mua sắm tập trung trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

2. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Báo cáo số 1511/BC-SGTVT ngày 30/11/2018)

Cử tri bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc kiến nghị: Trong đợt mưa lũ tháng 6/2018, nước lũ đã làm ảnh hưởng đến mố cầu Nậm Cưởm, bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, đề nghị Sở Giao thông Vận tải xem xét xây kè hướng dòng bảo vệ mố cầu Nậm Cưởm tại km 379+772 đến km 379+812 Quốc lộ 32.

Trả lời: Sở Giao thông vận tải đã kiểm tra hiện trường vị trí cầu Nậm Cưởm tại Km379+747/QL.32 thuộc khu vực bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên. Sở Giao thông vận tải đã có Tờ trình số 1500/TTr-SGTVT ngày 29/11/2018, gửi Tổng cục Đường bộ Việt Nam cho phép đầu tư sửa chữađột xuất công trình “Kè chống xói lở, bảo vệ mố cầu Nậm Cưởm tại Km379+747/QL.32”, sau khi được chấp thuận Sở Giao thông vận tải sẽ triển khai thực hiện.

3. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 3442/PCLC-TTBVPC ngày 30/11/2018)

Cử tri bản Pắc Lý, xã Pắc Ta kiến nghị: Tại bản Pắc Lý và bản Phiêng Ban còn thiếu khoảng 25 cột điện, nhân dân tự mắc điện bằng cột tre, khi mưa gió cột đổ gây nguy hiểm cho nhân dân, đề nghị Công ty Điện lực Lai Châu tiếp tục rà soát, đầu tư.

Trả lời: Để cấp điện an toàn, ổn định cho các hộ dân trong bản Pắc Lý, Phiêng Ban xã Pắc Ta. Công ty Điện lực Lai Châu đã chủ động báo cáo Tổng công ty Điện lực miền Bắc và được Tổng công ty chấp thuận triển khai trong kế hoạch ĐTXD năm 2019. Hiện nay Công ty Điện lực Lai Châu đang triển khai công tác khảo sát, lập thiết kế, lựa chọn nhà thầu và triển khai thi công để cấp điện an toàn, ổn định cho các hộ dân nêu trên, dự kiến hoàn thành trong năm 2019. Để đáp ứng tiến độ hoàn thành dự án cấp điện cho bản Pắc Lý, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên trong năm 2019, Công ty Điện lực Lai Châu kiến nghị HĐND tỉnh có ý kiến với UBND tỉnh, UBND huyện Tân Uyên chỉ đạo các bộ phận liên quan đẩy nhanh tiến độ công tác đền bù giải phóng mặt bằng của dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty Điện lực Lai Châu triển khai thực hiện dự án.

4. Bảo hiểm xã hội tỉnh trả lời (tại Công văn số 1100/BHXH-CĐBHXH ngày 30/11/2018)

Cử tri Lò Văn Đụng, bản Hua Chăng, thị trấn Tân Uyên kiến nghị: Bảo hiểm xã hội tỉnh xem xét việc giải quyết kiến nghị, đề nghị của ông liên quan đến chế độ chính sách đối với người lao động nghỉ việc (Ông đã có đơn gửi đến Bảo hiểm xã hội tỉnh) nhưng đến nay chưa giải quyết xong cho ông.

Trả lời:

Ông Lò Văn Đụng có thời gian công tác từ tháng 7/1976 đến tháng 11/1990 (tổng số thời gian công tác liên tục là 14 năm 5 tháng) tại Xí nghiệp chè Than Uyên trước khi nghỉ hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động. Thực hiện Quyết định hưởng trợ cấp mất sức lao động số 20/QĐ ngày 01/10/1990 của Xí nghiệp chè Than Uyên, ông Lò Văn Đụng được hưởng trợ cấp mất sức lao động từ ngày 01/12/1990 theo Nghị định số 236/HĐBT ngày18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Quyết định số 60/HĐBT ngày 01/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi chế độ trợ cấp đối với công nhân viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động; chế độ trợ cấp mất sức lao động của Ông Đụng do Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Lào Cai quản lý và chi trả.

Theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 60/HĐBT ngày 01/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 05/LĐTBXH-TT ngày 24/4/1990 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng bằng một nửa thời gian công tác đã quy đổi. Ông Lò Văn Đụng có thời gian công tác quy đổi là 16 năm 9 tháng thì được hưởng trợ cấp hằng tháng với thời gian hưởng là 8 năm 5 tháng (tính bằng ½ thời gian công tác quy đổi). Ông Đụng đã được hưởng trợ cấp hằng tháng đến tháng 5/1999, theo quy định từ ngày 01/6/1999 Ông Đụng hết hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động.

Tại nội dung trong Đơn ghi ngày 02/3/2017, Ông Đụng đề nghị được giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng và nộp lại số tiền đã hưởng chế độ trợ cấp một lần cho thời gian công tác thực tế trong quân đội theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ để cộng nối với thời gian làm việc tại Xí nghiệp chè Than Uyên. Bảo hiểm xã hội tỉnh Lai Châu đã có Công văn số 485/BHXH-TTKT ngày 21/6/2017 trả lời Ông Đụng, căn cứ theo quy định tại Điểm đ Khoản 3 Phần II Thông tư số 05/LĐTBXH-TT ngày 24/4/1990 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định: “những trường hợp đã cắt trợ cấp mất sức lao động thì không đặt vấn đề xem xét lại, nếu hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn thì được xem xét, giải quyết trợ cấp cứu tế xã hội”; như vậy trường hợp của Ông Đụng đã hưởng trợ cấp mất sức lao động không được giải quyết lại thì việc nộp lại tiền trợ cấp một lần theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg để tính thời gian cũng không đủ điều kiện về thời gian tham gia BHXH để giải quyết chế độ BHXH hằng tháng.

5. Công ty TNHH một thành viên quản lý thủy nông Lai Châu trả lời (tại Công văn số 283/CTQLTN-KHKT ngày 19/9/2018)

a) Cử tri xã Pắc Ta kiến nghị: Trong đợt mưa lũ tháng 6/2018 đã làm lấp, hỏng mương thủy lợi thuộc Công trình thủy lợi Bó Lun - Cốc Nhủng, nhân dân không có nước để sinh hoạt và sản xuất, đời sống gặp nhiều khó khăn. Đề nghị Công ty TNHH MTV quản lý Thủy nông tỉnh kiểm tra, sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi để đảm bảo nước sinh hoạt và sản xuất cho nhân dân.

Trả lời: Năm 2018 do ảnh hưởng hết sức nặng lề của mưa lũ làm ảnh hưởng nghiêm trọng nhiều công trình thủy lợi, trong đó có công trình thủy lợi Bó Lun - Cốc Nhủng, ngay sau khi các đợt mưa lũ kết thúc về phía Công ty đã tiến hành kiểm tra tổng thể để lên phương án khắc phục sửa chữa. Tại thời điểm tháng 6, 7/2018 để đảm bảo cho sản xuất vụ mùa về phía Công ty đã tiến hành khắc phục giai đoạn 1 ( Nạo vét, đào xúc đất sạt Taluy dương, lắp ống PVC 400) Quyết định số 161/QĐ-CTQLTN ngày 20/6/2018, Quyết định số 203/QĐ-CTQLTN ngày 17/7/2018 kết quả 100% lúa vụ mùa được cấp nước đầy đủ đến nay đã thu hoạch xong. Để đảm bảo cấp nước cho vụ Đông Xuân 2018-2019 hiện nay Công ty đang tiến hành sửa chữa khắc giai đoạn 2 ( Làm mới kênh bị vỡ, lắp đặt thêm ống, nạo vét bổ sung các đoạn kênh) Quyết định số 333/QĐ-CTQLTN ngày 27/9/2018 dự kiến xong trước ngày 20/12/2018.

b) Cử tri xã Pắc Ta kiến nghị: Đề nghị Công ty TNHH MTV quản lý Thủy nông tỉnh cử người dân tại bản thường xuyên quản lý, vận hành mương thủy lợi Nậm Mít, đoạn từ Hố Mít đến suối Mít Nọi để đảm bảo công trình được vận hành tốt, mưa lũ không bị nước tràn làm ảnh hưởng đến đất sản xuất của nhân dân bản Cang A, bản Mít Dạo.

Trả lời: Công trình thủy lợi Nậm Mít công ty đang quản lý có chiều dài tuyến kênh chính trên 15 km. Trong đó tuyến số 1 có chiều dài trên 7 km có chạy qua các bản Cang A, Mít Dạo vào thời điểm cuối tháng 6 và tháng 7 mưa lớn đã làm sạt lở 21 điểm trên tuyến số 1 từ đầu mối đến cuối tuyến khối lượng trên 7.000 m3, do đó khi mưa lớn nước từ trên đồi chảy xuống và tràn vào nhà dân và ruộng sản xuất chứ không phải từ công trình đầu mối chảy về đây là trường hợp bất khả kháng, còn bố trí người quản lý Công ty đã bố trí 1 người quản lý thường xuyên kiểm tra nhất là mùa mưa lũ để có hướng xử lý. Khắc phục cuối tháng 7/2018 công trình đã được nạo vét khơi thông dòng chảy đảm bảo cấp nước phục vụ sản xuất.

6. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số 1325/BC-SNN ngày 03/12/2018)

Cử tri bản Nà Sẳng, xã Pắc Ta kiến nghị:Hộ gia đình ông Lò Văn Hảy có 03 ha đất rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đã được khoanh nuôi bảo vệ, thành rừng tái sinh) nhưng nằm ngoài quy hoạch nên không được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét để gia đình được hưởng dịch vụ môi trường rừng.

Trả lời: Căn cứ nội dung kiến nghị của hộ gia đình ông Lò Văn Hảy cử tri bản Nà Sẳng, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên; ngày 27/11/2018 Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ, UBND xã Pắc Ta và hộ gia đình tiến hành kiểm tra thực tế tại thực địa đối với diện tích mà hộ gia đình ông Lò Văn Hảy kiến nghị xem xét để được hưởng dịch vụ môi trường rừng. Kết quả kiểm tra cho thấy diện tích đất của hộ gia đình ông Lò Văn Hảy hiện tại chưa đủ tiêu chí thành rừng theo quy định (số diện tích trên có trạng thái là đất trống có cây gỗ tái sinh rải rác) vì vậy các cơ quan chuyên môn của huyện Tân Uyên chưa đưa số diện tích trên vào phương án khoán bảo vệ rừng để chi trả tiền DVMTR. Đề nghị hộ gia đình tiếp tục khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ khi đủ tiêu chí thành rừng sẽ được rà soát thống kê để chi trả tiền DVMTR theo quy định.

IV. HUYỆN TAM ĐƯỜNG

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

Cử tri bản Pan Khèo, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường kiến nghị: UBND tỉnh Lai Châu xem xét lại phương án giải quyết việc tranh chấp đất giữa bản Sin Câu, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ và bản Pan Khèo, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường theo phương án mỗi bên được hưởng 50% tiền dịch vụ môi trường rừng để động viên nhân dân trong công tác quản lý và bảo vệ. Hiện nay theo phương án giải quyết, toàn bộ diện tích và tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ giao và chi cho Nhân dân Sin Câu, xã Sin Suối Hồ, trong khi thực tế nhân dân bản Pan Khèo cùng chung bảo vệ; bên cạnh đó, theo bản đồ 364 toàn bộ diện tích trên thuộc xã Thèn Sin, huyện Tam Đường.

Trả lời:

Việc tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa xã Sin Súi Hồ, huyện Phong Thổ với xã Thèn Sin, huyện Tam Đường đã được UBND tỉnh giải quyết tại Văn bản số 324/BC-UBND ngày 22/11/2017 trên cơ sở tôn trọng lịch sử sinh sống và canh tác từ lâu đời của Nhân dân các bên liên quan.

Về đề xuất của phân chia hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng. UBND tỉnh giao UBND hai huyện Phong Thổ, Tam Đường tổ chức làm việc, hiệp thương giữa lãnh đạo huyện và Nhân dân hai địa phương để bàn, thống nhất phương án giải quyết.

V. HUYỆN THAN UYÊN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

a) Cử tri các xã Mường Than, Mường Cang, Mường Kim, Phúc Than kiến nghị: UBND tỉnh xem xét điều chỉnh hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình dọc quốc lộ 32 thuộc các xã Mường Than, Mường Cang, Mường Kim, Phúc Than theo định mức của đất ở đô thị (mức tối thiểu 80m2tối đa không quá 250m2), vì hiện nay nhiều hộ gia đình dọc Quốc lộ 32 đất hiện có không đủ định mức cấp đất ở nông thôn (tối thiếu 120m2) nên các hộ dân không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trả lời:

Tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh quy định hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở; kích thước, diện tích đất tối thiểu được tách thửa; hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu là phù hợp với quy định tại Điều 143 và Điều 144 Luật Đất đai năm 2013.

Trường hợp các hộ gia đình dọc Quốc lộ 32 có thửa đất không đủ định mức cấp đất ở nông thôn (120 m2); nếu thửa đất được hình thành từ trước ngày 15/11/2014 (ngày Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh có hiệu lực thi hành) và có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

b) Cử tri ngành giáo dục huyện Than Uyên kiến nghị:UBND tỉnh xem xét chuyển đổi viên chức công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo thành công chức, vì theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 6, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ về quy định những người là công chức có nêu: Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

Trả lời:

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, UBND các huyện, thành phố đã bố trí 266 biên chế viên chức thực hiện nhiệm vụ của công chức tại một số phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có nội dung rà soát, thống kê viên chức đang làm việc tại phòng chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Ngày 10/11/2017, UBND tỉnh ban hành Báo cáo số 309/BC-UBND về việc triển khai Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, trong đó có nội dung báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc chuyển đổi 266 biên chế viên chức đang làm việc tại các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện sang công chức. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản trả lời của Thủ tướng Chính phủ về đề nghị trên của tỉnh.

Trường hợp Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Than Uyên còn biên chế hành chính thì xem xét trong số viên chức của phòng đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn báo cáo UBND huyện Than Uyên đề nghị xét chuyển viên chức thành công chức, gửi Sở Nội vụ tổng hợp, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.

c) Cử tri ngành giáo dục huyện Than Uyên kiến nghị: Cử tri nhất trí với lộ trình tinh giản biên chế nhưng trước mắt không giảm biên chế là giáo viên, chỉ nên giảm nhân viên; khi cắt giảm đề nghị nêu rõ số lượng biên chế về nhân viên, số nhân viên hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ. Đối với cấp học mầm non và THCS đang còn thiếu giáo viên so với quy định, đề nghị tổ chức thi ngay từ đầu năm học để đảm bảo công tác giảng dạy theo tinh thần chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội nghị tổng kết năm học 2017-2018 và văn bản số 3043/BGDĐT-NGCBQLGD, ngày 20/7/2018, Bộ GD&ĐT về đôn đốc thực hiện tinh giản biên chế ngành giáo dục, trong đó có đề cập đến việc tinh giản biên chế ngành Giáo dục phải gắn với việc bảo đảm các quy định về định mức số lượng giáo viên đối với mỗi cấp học, chế độ làm việc, chính sách cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và phù hợp với việc rà soát, sắp xếp, điều chỉnh lại hệ thống, quy mô, trường lớp học của địa phương.

Trả lời:

Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có quy định đến năm 2021 giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2015; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Trên cơ sở sáp nhập các đơn vị trường học hiện nay số giáo viên đã được bố trí, sắp xếp để phục vụ nhiệm vụ giảng dạy chưa tinh giản đội ngũ này. Số tinh giản biên chế dôi dư do sáp nhập trường học chủ yếu là bộ phận hành chính, kế toán, phục vụ và thư viện.

Đối với kiến nghị giao rõ số lượng biên chế cắt giảm hàng năm: Khi giao biên chế hàng năm cho UBND huyện Than Uyên, UBND tỉnh đã giao rõ biên chế hành chính, biên chế sự nghiệp, biên chế nhân viên hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP và biên chế hội đặc thù.

d) Cử tri các xã Mường Than, Phúc Than, Mường Kim, Mường Cang, Ta Gia, Khoen On, Mường Mít, Hua Nà, Thị trấn Than Uyên kiến nghị: Trong trường hợp sáp nhập các bản, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm hợp lý hóa các loại giấy tờ, thủ tục cho nhân dân sau khi sáp nhập; đồng thời nâng mức phụ cấp cho các chức danh thôn, bản.

Trả lời:

UBND tỉnh tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri và sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm tham mưu các quy định về quản lý giấy tờ, thủ tục cho Nhân dân trước và sau khi sáp nhập.

Đối với kiến nghị nâng phụ cấp cho các chức danh thôn, bản: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 30/7/2014 quy định chức danh, số lượng, mức phụ cấp hàng tháng và các chế độ chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, bản, tổ dân phố; theo đó, mức phụ cấp hàng tháng cho các chức danh đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; thôn, bản tổ dân phố, được xây dựng căn cứ theo khả năng cân đối ngân sách của địa phương. Về cơ bản, mức phụ cấp của các chức danh nêu thôn, bản đã đảm bảo hoạt động và tương đối phù hợp với mức phụ cấp của các chức danh không chuyên trách khác được quy định tại Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 30/7/2014 của UBND tỉnh. Mặt khác, tại Điểm a, Khoản 2, Mục I, Phần thứ nhất của Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Chính phủ quy định “không ban hành các chính sách, chế độ, chương trình, đề án làm tăng chi ngân sách nhà nước khi không cân đối được nguồn”.

Trong điều kiện ngân sách địa phương còn hạn hẹp, nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương. Do đó, mức phụ cấp cho các đối tượng trên trước mắt giữ nguyên, khi đủ điều kiện UBND tỉnh sẽ trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung phù hợp điều kiện thực tế.

e) Cử tri bản Đốc, xã Khoen On kiến nghị:Khu đất (khoảng 5ha), trước đây giao cho Ban quản lý Thủy điện 1 để làm lán trại, nhà ở công nhân xây dựng thủy điện Huội Quảng, Bản Chát; đến nay công trình thủy điện Huội Quảng, Bản Chát đã đi vào hoạt động, diện tích đất trên không còn nhu cầu sử dụng, đề nghị UBND tỉnh sớm thu hồi để giao lại cho UBND huyện, xã quản lý.

Trả lời:

Hiện nay, UBND tỉnh đang tích cực chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND huyện Than Uyên làm việc với Ban Quản lý dự án thủy điện I rà soát, kiểm tra toàn bộ diện tích đất đã giao xây dựng thủy điện Huội Quảng, Bản Chát; phần diện tích nào không còn nhu cầu sử dụng sẽ sớm hoàn thiện hồ sơ thu hồi giao cho UBND huyện Than Uyên quản lý theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

2. Sở Giao thông vận tải trả lời (tại Báo cáo số 1511/BC-SGTVT ngày 30/11/2018)

Cử tri bản Là 1,2 xã Mường Kim, huyện Than Uyên: Đề nghị Sở giao thông Vận tải xem xét nâng cấp, sửa chữa cống qua đường quốclộ 32 tại thuộc Km 336-Km 337 khi mưa lũ nước thoát không kịp làm ảnh hưởng đến ruộng của nhân dân.

Trả lời:Sở Giao thông vận tảiđã kiểm tra cống Km336+200 quốc lộ 32, địa phận bản Là 1, 2 xã Mường Kim, huyện Than Uyên. Hiện tại một phần sân cống hạ lưu bị xói lở, kết hợp với mương thủy lợi bị vùi lấp, khi mưa lũ lớnnước chảy qua cống tràn vào ruộng của nhân dân. Sở Giao thông vận tảiđã triển khai sửa sân cống hạ lưu và bổ sung kè hướng dòng nước chảy vào mương thủy lợi (không phải nâng cấp cống), thời gian hoàn thành trước ngày 15/12/2018. Đề nghị UBND huyện Than Uyên chỉ đạo các đơn vị liên quan thường xuyên bảo dưỡngnạo vét, khơi thông hệ thống mương thủy lợi để đảm bảo thoát nước.

3. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 3442/PCLC-TTBVPC ngày 30/11/2018)

Cử tri bản Phương Quang, Xuân Én, xã Mường Than kiến nghị: Công ty Điện lực Lai Châu cho nhân dân được sử dụng điện lưới quốc gia (hiện nay nhân dân đang sử dụng nguồn điện Nà Khằm nhưng nguồn điện không ổn định, các thiết bị điện trong nhà thường xuyên bị chập, cháy).

Trả lời:

- Nhân dân bản Phương Quang, Xuân Én xã Mường Than hiện đang được sử dụng điện từ nguồn điện của thủy điện Nà Khằm do Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu quản lý không thuộc tài sản của ngành điện. Trong quá trình sử dụng nguồn điện không ổn định, các thiết bị điện trong nhà thường xuyên bị chập, cháy đề nghị nhân dân liên hệ với đơn vị chủ quản là Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu để giải quyết.

- Để nhân dân bản Phương Quang, Xuân Én, xã Mường Than huyện Than Uyên được sử dụng điện lưới quốc gia Bộ Công thương đã có Quyết định số 4295/QĐ-BCT ngày 28/10/2016 phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án “Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015-2020”. Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, dự án chưa được bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

4. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số 1325/BC-SNN ngày 03/12/2018)

Cử tri các xã: Tà Hừa, Ta Gia, Khoen On, Tà Mung, Mường Mítkiến nghị: Đối với quy trình trồng quế, cho phép triển khai từ độ cao 700-750m; điều chỉnh diện tích tối thiểu từ 0,5 xuống 0,1 ha để trồng tập trung; nghiệm thu thanh toán kết quả làm đất trước khi trồng. Đối với trồng rừng, cho phép trồng rừng bằng các loại cây khác ngoài quế, sơn tra, mác ca từ độ cao 750-999m. Đối với Mác ca, đề nghị không áp dụng quy trình chuẩn khi trồng xen chè.

Trả lời:

(1) Đối với kiến nghị về độ cao trồng cây Sơn tra, cây Quế: Qua nghiên các cứu tài liệu liên quan đến trồng, chăm sóc cây Sơn tra, cây Quế nhiều vùng ở nước ta và thực tế trên địa bàn tỉnh nhận thấy ngoài những yếu tố phù hợp về đất đai, khí hậu, thời tiết,…

Cây Sơn tra được trồng ở độ cao ≥ 1.000m so với mực nước biển có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, sản lượng, chất lượng quả cao hơn so với những vùng trồng có độ cao <1.000m.

Cây Quế được trồng ở độ cao ≤ 700m so với mực nước biển có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, sản lượng và hàm lượng tinh dầu cao hơn so với những vùng trồng có độ cao > 700m.

Mặt khác, các đề án phát triển cây Sơn tra, cây Quế đã được UBND tỉnh phê duyệt là chương trình trồng rừng kinh tế kết hợp phòng hộ nên mục tiêu về hiệu quả kinh tế đem lại cho người dân tham gia thực hiện đề án được đặt lên hàng đầu. Do vậy, đề nghị UBND huyện Than Uyên chỉ đạo đơn vị quản lý điều hành và UBND các xã thực hiện các đề án, tổ chức tuyên truyền, phổ biến để Nhân dân hiểu về điều kiện sinh thái của các loài cây để tập trung thực hiện phát triển trồng cây Sơn tra ở những vị trí có độ cao ≥1.000m và cây Quế ở những vị trí có độ cao ≤ 700m so với mực nước biển theo nội dung các đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt.

(2) Kiến nghị cho phép trồng trồng rừng bằng các loại cây khác ngoài cây Sơn tra, cây Quế và cây Mắc ca từ độ cao 750 - 999m: Ngày 28/7/2016, HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 33/2016/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 - 2021; ngày 08/12/2017, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 26/2017/NQ-HĐND về bổ sung một số nội dung Nghị quyết số 33/2016/NQ-HĐND. Theo chính sách quy định tại các Nghị quyết trên đối với lĩnh vực lâm nghiệp thực hiện hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh để trồng, phát triển các loài cây Sơn tra, Quế và cây Mắc ca.

Thực hiện các Nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã xây dựng và phê duyệt các đề án về phát triển cây Sơn tra, cây Quế và cây Mắc ca để triển khai thực hiện với mục tiêu: Phát triển tập trung các loài cây trồng trên theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất, khai thác tiềm năng đất đai, khí hậu và nguồn nhân lực tại địa phương góp phần giảm nghèo, tạo việc làm tăng thu nhập và từng bước thay đổi tập quán canh tác cho người dân địa phương, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái và tạo sinh kế cho người dân. Ngoài những loài cây trồng theo các đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt, Nhân dân trên địa bàn có thể tự lựa chọn, đầu tư trồng các loài cây trồng khác (được phép trồng theo quy định của pháp luật) có điều kiện sinh thái phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu của địa phương để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế khi đầu tư.

(3) Kiến nghị về điều chỉnh diện tích tối thiểu từ 0,5 ha xuống 0,1 ha để trồng tập trung: Theo đúng quy định tại Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 128 - 2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Quy trình thiết kế trồng rừng lô thiết kế trồng rừng tối thiểu 0,5ha. Mặt khác theo quy định tại khoản 3, Điều 2, Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 đã được Qukốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 15/11/2017 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã quy định một trong những tiêu chí để xác định thành rừng là diện tích liền vùng phải từ 0,3 ha trở lên. Căn cứ quy định trên đề nghị UBND huyện Than Uyên chỉ đạo các cơ quan chuyên môn khi tổ chức thiết kế trồng rừng cần tiến hành rà soát lựa chọn những lô có diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên để xây dựng hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện. Tuy nhiên trong quá trình khảo sát thiết kế tại thực địa đối với những vị trí có diện tích < 0,3ha nhưng liền vùng liền khoảnh với diện tích đã có rừng hoặc liền kề với những lô thiết kế để trồng rừng mới có diện tích từ 0,3ha trở lên thì cơ quan chuyên môn có thể xem xét thiết kế để thực hiện trồng rừng cho phù hợp với thực tế nhưng vẫn đảm bảo tiêu chí thành rừng theo quy định.

(4) Kiến nghị nghiệm thu thanh toán kết quả làm đất trước khi trồng: Theo quy định tại Phụ lục III, Thông tư số 23/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn một số nội dung quản lý công trình lâm sinh, việc thanh toán kết quả trồng rừng phải căn cứ vào kết quả nghiệm thu bước 2 (sau khi trồng rừng) gồm kết quả nghiệm thu về diện tích thực trồng, loài cây trồng và tỷ lệ cây sống tốt. Việc cử tri kiến nghị nghiệm thu thanh toán kết quả làm đất trước khi trồng là trái với quy định tại Thông tư số 23/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT do vậy đề nghị UBND huyện Than Uyên chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND các xã tổ chức tuyên truyền, phổ biến để Nhân dân hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

(5) Kiến nghị đối với diện tích Mắc ca trồng xen chè không áp dụng quy trình chuẩn: Mắc ca là nhập nội được trồng lấy quả có giá trị kinh tế cao, để cây Mắc ca trồng sinh trưởng phát triển tốt mang lại hiệu quả kinh tế thì các hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật.

Thực hiện Đề án khuyến khích phát triển cây Mắc ca tập trung trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2021, UBND tỉnh đã ban hành Quy trình tạm thời về kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch Mắc ca ở Lai Châu (trong đó có quy trình kỹ thuật trồng xen chè) kèm theo Quyết định số 1655/QĐ-UBND ngày 26/12/2017. Quy trình kỹ thuật UBND tỉnh đã ban hành được xây dựng dựa trên cơ sở hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch quả và sơ chế hạt cây Mắc ca Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành và tình hình thực tế đã triển khai tại địa phương. Hiện tại trên địa bàn tỉnh các hộ gia đình, cá nhân đã và đang thực hiện trồng cây Mắc ca xen chè theo quy trình kỹ thuật UBND tỉnh đã ban hành; những diện tích trồng Mắc ca xen chè đã trồng hiện đang sinh trưởng phát triển tốt; một số diện tích trồng đã cho thu hoạch có năng suất và sản lượng tương đối cao, mang lại hiệu quả kinh cho các hộ gia đình, cá nhân. Do đó, đề nghị UBND huyện Than Uyên chỉ đạo cơ quan chuyên môn và UBND các xã có thực hiện trồng cây Mắc ca tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân để Nhân dân hiểu và thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật đã được UBND tỉnh ban hành.

VI. HUYỆN NẬM NHÙN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

a) Cử tri xã Nậm Manh kiến nghị:Hiện nay Chính phủ quy định đóng cửa rừng tự nhiên, không cho phép khai thác gỗ nên các hộ dân vùng sâu, vùng xa gặp khó khăn trong việc làm nhà ở, trong khi người dân không có điều kiện để mua vật liệu xây dựng và cũng không phù hợp với phong tục tập quán của người đồng bào dân tộc thiểu số, đề nghị UBND tỉnh xem xét có chính sách đặc thù đối với việc khai thác gỗ làm nhà tại chỗ cho các hộ dân.

Trả lời:

Hiện nay nhu cầu khai thác gỗ làm nhà tại chỗ của các hộ dân không chỉ có ở xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn mà còn có ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, theo chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng) và Chính phủ (Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và giải pháp thực hiện trong thời gian tới), thì việc dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên (bao gồm cả khai thác gỗ gia dụng, khai thác tận thu, tận dụng) phải thực hiện nghiêm túc trên phạm vi cả nước.

Do đó, UBND tỉnh không ban hành chính sách đặc thù đối với việc khai thác gỗ làm nhà tại chỗ cho các hộ dân trái với quy định của Trung ương. Đề nghị UBND huyện Nậm Nhùn tuyên truyền, giải thích cho Nhân dân xã Nậm Manh để Nhân dân hiểu, đồng thuận và chấp hành đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.

b) Cử tri là giáo viên Trường THCS xã Pú Đao kiến nghị UBND tỉnh: Bố trí đủ số lượng giáo viên giảng dạy cho các cấp học của xã nói riêng và của toàn huyện nói chung, vì hiện nay biên chế giáo viên của toàn huyện Nậm Nhùn đang thiếu, nhất là giáo viên Mầm non.

Trả lời:

Do Bộ Nội vụ thẩm định giao biên chế cho tỉnh Lai Châu vào thời điểm sau kỳ họp thứ 6, HĐND tỉnh nên việc giao biên chế cho các cơ quan, đơn vị năm 2018 chuyển sang kỳ họp thứ 7, HĐND tỉnh (tháng 7/2018). Bên cạnh đó thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, tỉnh Lai Châu đã sáp nhập các đơn vị trường học và bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên sau khi sáp nhập. Trên cơ sở sắp xếp, rà soát số biên chế giáo viên còn thiếu mới tổ chức xét tuyển, vì vậy tỉnh không tổ chức xét tuyển ngay từ đầu năm học nên có ảnh hưởng đến tỷ lệ giáo viên đứng lớp của một số trường.

Ngày 24/8/2018, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1291/KH-UBND về tuyển dụng viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2018-2019, dự kiến trong tháng 12/2018 sẽ phê duyệt kết quả trúng tuyển và ban hành quyết định tuyển dụng theo quy định để đảm bảo số lượng giáo viên cho các ngành học, cấp học trên địa bàn toàn tỉnh.

c) Cử tri là giáo viên Trường THCS xã Pú Đao kiến nghị UBND tỉnh:Sớm bố trí vốn xây dựng trường Trung học cơ sở cho xã, vì từ trước đến nay xã chưa có trường Trung học cơ sở, Trường chỉ là mượn tạm các phòng học cũ của Trường Tiểu học, đến nay đã xuống cấp.

Trả lời:

Dự án Trường THCS xã Pú Đao là danh mục dự kiến khởi công mới trong giai đoạn 2018-2020 theo Kế hoạch đầu tư công trung hạn, tuy nhiên đến nay chưa được đầu tư do thực hiện chủ trương sáp nhập trường đối với các trường có ít học sinh theo Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Đến nay Trường Tiểu học xã Pú Đao và Trung học cơ sở xã Pú Đao huyện Nậm Nhùn đã được UBND huyện Nậm Nhùn sáp nhập thành Trường liên cấp là Trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã Pú Đao (tại Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 23/7/2018 về việc thành lập trường Tiểu học và THCS xã Pú Đao). UBND tỉnh ghi nhận ý kiến cử tri, trong thời gian tới UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện chuẩn bị đầu tư theo quy mô trường sau sáp nhập để sớm đầu tư xây dựng trường.

d) Cử tri là giáo viên Trường THCS xã Pú Đao kiến nghị UBND tỉnh: Phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Trung học Phổ thông, trường Nội trú của tỉnh, huyện, trường nghề sát với nhu cầu thực tế của địa phương, vì hiện nay số lượng học sinh học hết lớp 9 của xã nhiều nhưng không có chỉ tiêu vào học các trường Trung học phổ thông, trường Nội trú và trường nghề gây khó khăn cho phụ huynh, cấp ủy chính quyền trong việc hướng nghiệp cho các em.

Trả lời:

Trong những năm qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành GD&ĐT, UBND các huyện, thành phố thực hiện việc phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Phổ thông DTNT của tỉnh, của huyện đảm bảo phù hợp với quy mô học sinh tốt nghiệp THCS và cơ cấu thành phần dân tộc của các địa phương.

Đối với trường Dạy nghề, hiện nay tỉnh không chỉ đạo việc giao chỉ tiêu tuyển sinh cho các huyện, thành phố. Nhà trường tổ chức xây dựng phương án tuyển sinh hàng năm trên cơ sở hồ sơ đăng ký của người học theo nhu cầu.

Riêng đối với các trường THPT, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành GD&ĐT xét trúng tuyển cho tất cả học sinh có đủ điều kiện tuyển sinh kể cả trường đó đã vượt chỉ tiêu theo kế hoạch giao.

2. Ban QLDA ĐTXD các công trình Nông nghiệp và PTNT trả lời (tại Báo cáo số 1519/BC-BQLDA ngày 28/11/2018)

a) Cử tri Hù Văn Phức, bản Mường Mô 1 và cử tri Hỏ Thị Dan, bản Mường Mô, xã Mường Môkiến nghị: Trước đây,02 hộ gia đình đã được làm nương tại km 43, quá trình đo, kiểm đếm có phát hiện ra trùng 01 thửa đất với tổng diện tích là 4000m2, giữa 02 gia đình đã thỏa thuận và có đơn đề nghị gửi đến UBND xã, nhưng đến nay chưa thấy trả lời, đề nghị Ban TĐC tỉnh xem xét, giải quyết cho 02 hộ gia đình.

Trả lời: Cử tri Hù Văn Phức, bản Mường Mô 1 và cử tri Hỏ Thị Dan, bản Mường Mô: Gia đình đề nghị Ban giải quyết cho 02 hộ gia đình. Qua kiểm tra hồ sơ, tài liệu có liên quan thì không có thửa đất nào với diện tích như gia đình ông, bà kiến nghị. Tuy nhiên đến nay gia đình ông, bà mới kiến nghị thiếu 4.000 m2ở khu vực km 43 là không đúng thực tế, vì từ trước đến nay Ban không nhận được bất kỳ kiến nghị phản ánh nào của gia đình ông, bên cạnh đó cũng qua bao nhiêu lần tiếp xúc cử tri của các cấp gia đình ông cũng không có ý kiến phản ánh gì. Mặt khác khi lập phương án bồi thường đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu Ban QLDA bồi thường di dân TĐC tỉnh (Này là Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình NN&PTNT) đã niêm yết công khai phương án và Quyết định thì gia đình ông đã nhất trí với phương án. Ngoài ra trước khi tích nước lòng hồ Thủy điện Lai Châu. Ban cùng đơn vị tư vấn đo đạc đã phối hợp với các trưởng các bản, UBND xã, địa chính xã tổ chức cho nhân dân kiểm tra số liệu về đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu và ký biên bản với ban và đơn vị tư vấn đo đạc là đầy đủ trước khi nước ngập. Nhưng đến nay gia đình vẫn có kiến nghị phản ánh thiếu diện tích đất dưới cos ngập lòng hồ Thủy điện Lai Châu nên Ban không giải quyết.

b) Cử tri Lường Văn Thơm, bản Giẳng, xã Mường Môkiến nghị:Trước khi chưa di chuyển tái định cư gia đình có đất ruộng hai vụ canh tác hằng năm tại cánh đồng Hổi Sí, nay là khu mặt bằng của bản có tổng diện tích là 2.200m2, bị ảnh hưởng do thi công mặt bằng TĐC bản Giẳng, nhưng đến nay vẫn chưa được thanh toán. Trong khi đó, một số hộ có đất bị ảnh hưởng đã được thanh toán, đề nghị Ban QLDA ĐTXD các công trình NN & PTNTxem xét, giải quyết.

Trả lời: Theo như hồ sơ giải phóng mặt bằng của công trình mặt bằng, đường nội bộ điểm TĐC bản Giẳng thì Ban đã thanh toán toàn bộ tiền bồi thường cho các hộ dân có đất, tài sản vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi bị anh hưởng do thi công công trình. Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện dự án Ban không nhận được bất cứ phản ánh nào của cử tri Lường Văn Thơm về số diện tích 2.200 m2 như trong kiến nghị và đến thởi điểm hiện tại công trình đã bàn giao đưa vào sử dụng nhiều năm nên Ban không còn cơ sở để giải quyết.

c) Cử tri các hộ TĐC tự nguyện xã Mường Mô:Đề nghị Ban QLDA ĐTXD các công trình NN & PTNTsớm triển khai thực hiện đền bù đất trên cos ngập thủy điện Lai Châu, thủy điện đã hoàn thành từ năm 2015 nhưng việc đền bù cho Nhân dân quá chậm.

Trả lời: Hiện nay số diện tích đất và TSVKT cây cối hoa màu của các hộ dân TĐC tự nguyện và Tập chung đô thị huyện Nậm Nhùn trên địa bàn xã Mường Mô, đã được Ban QLDA đo đếm đầy đủ và đang trong quá trình thực hiện các thủ tục bồi thường cho các hộ dân. Sau khi Quyết định thu hồi đất được UBND huyện Nậm Nhùn phê duyệt, trên cơ sở Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Nậm Nhùn Ban sẽ tiến hành làm các thủ tục để phê duyệt phương án bồi thường và chi trả cho các hộ dân trong thời gian sớm nhất.

d) Cử tri Nguyễn Thị Nhường, bản Pá Kéo1, thị trấn Nậm Nhùn kiến nghị:Sớm thanh toán tiền đất nương dưới cos ngập cho hộ bà Mào Thị Hích chưa được đền bù, hai hộ gia đình có đất nương bên cạnh đã được đền bù (hộ Nguyễn Thị Nhường và hộ Quàng Văn Phinh), qua xét đợt 4,đất củahộMào Thị Hích lại quy vào đất rừng nên không chi trả (đất nương thuộc xã Mường Mô).

Trả lời: Đến thời điểm hiện tại Ban đã chi trả đầy đủ, đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách cho tất cả các hộ có đất sản xuất nằm dưới vùng ngập lòng hồ Thủy điện Lai Châu. Tuy nhiên cử tri Nguyễn Thị Nhường vẫn kiến nghị hộ bà Mào Thị Hích chưa được đền là không đúng thực tế. Vì trước khi phê duyệt phương án bồi thường, chi trả tiền Ban đã làm tất cả các thủ tục có liên quan và có biên bản làm việc với UBND xã Mường Mô và có thông báo tới từng hộ dân do vậy Ban không giải quyết.

e) Cử tri Trần Văn Thắng, bản Pá Kéo 1, thị trấn Nậm Nhùn kiến nghị: Sớm rà soát và thanh toán tiền đền bù đất nương trên cos ngập cho các hộ dân có diện tích nương trên cos ngập nằm trên trục đường 127 cũ (đất nương thuộc xã Mường Mô).

Trả lời: Hiện nay số diện tích đất và TSVKT cây cối hoa màu của các hộ dân TĐC tự nguyện và Tập chung đô thị huyện Nậm Nhùn trên địa bàn xã Mường Mô, đã được Ban QLDA đo đếm đầy đủ và đang trong quá trình thực hiện các thủ tục bồi thường cho các hộ dân. Sau khi Quyết định thu hồi đất được UBND huyện Nậm Nhùn phê duyệt, trên cơ sở Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Nậm Nhùn Ban sẽ tiến hành làm các thủ tục để phê duyệt phương án bồi thường và chi trả cho các hộ dân trong thời gian sớm nhất.

f) Cử tri Lò Văn Diu, bản Noong Kiêng, thị trấn Nậm Nhùn kiến nghị: Xem xét sớm giải quyết cho dân việc đất cát vùi lấp, cuối trôi hơn 60 mộ, ao cá, ruộng, từ năm 2014(khu mỏ đá Huổi Nam).

Trả lời: Đối với kiến nghị của ông Lò Văn Diu ở vị trí (khu mỏ đá Huổi Nam) không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban.

VII. THÀNH PHỐ LAI CHÂU

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

Cử tri Tổ dân phố số 25, 26, phường Đông Phong không nhất trí với trả lời của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh tại Báo cáo số 1303/BC-BQLDA ngày 20/9/2018 về việc giải quyết và trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tổ 25 và tổ 26 phường Đông Phong. Đề nghị UBND tỉnh làm việc với tỉnh Điện Biên để giải quyết dứt điểm những tồn tại, vướng mắc của nhân dân TĐC thuộc Tổ dân phố số 25, 26, phường Đông Phong.

Trả lời: Vấn đề này UBND tỉnh Lai Châu đã làm việc với UBND tỉnh Điện Biên ngày từ ngày 27/11/2015, tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo các đơn vị liên quan tập trung giải quyết. Đến ngày 03/11/2017, UBND tỉnh Lai Châu tiếp tục có Công văn số 2038/UBND-NN đề nghị UBND tỉnh Điện Biên sớm giải quyết kiến nghị cho người dân, tuy nhiên đến nay kiến nghị này của cử tri vẫn chưa được tỉnh Điện Biên giải quyết. Đề nghị cử tri tổ dân phố số 25, 26 phường Đông Phong thực hiện quyền khiếu kiện đối với tỉnh Điện Biên theo quy định của pháp luật.

2. Ban QLDA ĐTXD các công trình Nông nghiệp và PTNT trả lời (tại Báo cáo số 1519/BC-BQLDA ngày 28/11/2018)

Cử tri tổ 25, 26, Phường Đông Phong, Thành phố Lai Châu kiến nghị: Ban QLDA ĐTXD các công trình NN & PTNT công khai danh sách 169 người dân được học nghề và hỗ trợ theo báo cáo của Ban QLDA ĐTXD các công trình NN & PTNT cho nhân dân tái định cư dự án Thủy điện Sơn La thuộc tổ dân phố số 25, 26 được biết.

Trả lời: Việc các hộ dân tổ 25,26 Phường Đông Phong kiến nghị là không đúng, năm 2017 Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã lập phương án hỗ trợ Chi phí đào tạo, chuyển đổi ngành nghề, mua sắm công cụ lao động và đã được UBND Thành phố Lai Châu phê duyệt tại Quyết định số 2852/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 về việc phê duyệt chi phí mua sắm công cụ lao động cho các hộ dân thuộc đối tượng bồi thường, hỗ trợ, di dân TĐ dự án thủy điện Sơn La tỉnh Lai Châu, di chuyển từ thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên đến TĐC tập trung tại khu dân cư số 1 thị xã Lai Châu (nay là thành phố Lai Châu), tỉnh Lai Châu phê duyệt hỗ trợ cho 7 hộ 10 lao động trong độ tuổi lao động nông nghiệp và các hộ đã nhận tiền hiện nay đã quyết toán xong. Việc bà con tổ dân phố 25,26 kiến nghị Ban công khai danh sách 169 người dân được học nghề và hỗ trợ theo báo cáo củaBan QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho nhân dân tái định cư dự án Thủy điện Sơn La là không đúng.

3. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh trả lời (tại Công văn số 2959/BCH-PTM ngày 29/11/2018)

Cử tri Bản Gia Khâu 2 - xã Nậm Loỏng, Thành phố Lai Châu kiến nghị: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh xem xét nâng mức hỗ trợ di chuyển mộ cho các hộ gia đình diện giải tỏa thuộc dự án của Tiểu đoàn bộ binh, với mức hỗ trợ như hiện nay là quá thấp không đủ chi phí để di chuyển.

Trả lời:

(1) Việc hỗ trợ di chuyển mộ thuộc dự án của Tiểu đoàn 1 được thực hiện theo căn cứ sau:

Theo Quyết định số 30/2017/QĐ-UBND ngày 14/8/2017 của UBND tỉnh về ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Đơn giá bồi thường tài sản - vật kiến trúc công trình xây dựng gắn liền với đất; theo Mục 17 quy định có hai loại hỗ trợ mục 17.2 là “mộ đắp đất trên 03 năm” hỗ trợ 3.575.000 đồng và mục 17.4 là “mộ đắp đất từ một (01) đến dưới ba (03) năm” hỗ trợ 4.290.000 đồng.

Thực tế mộ của các hộ dân là mộ đắp đất trên ba năm nên mức giá hỗ trợ theo mục 17.2 là 3.575.000 đồng, nhưng Bộ CHQS tỉnh đã hỗ trợ các gia đình có mộ phải di chuyển với mức giá cao nhất theo mục 17.4, “mộ đắp đất từ một (01) đến dưới ba (03) năm” hỗ trợ 4.290.000 đồng/mộ, tổng số 28 mộ hiện Bộ CHQS đã thanh toán đủ (tháng 9/2018).

(2) Trong quá trình di chuyển mộ theo đề nghị của địa phương và các hộ gia đình có mộ trên đất thuộc dự án Tiểu đoàn bộ binh. Bộ CHQS tỉnh đã hỗ trợ về nhân công để di chuyển cụ thể hỗ trợ 9 ngày được 99 công, di chuyển được 21 trên tổng số 28 mộ trung bình 11 công/mộ (từ đào đất, bốc mộ, di chuyển sang nơi mới, đào hố và hoàn thiện mộ mới).

(3) Ngoài ra Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Sông Hồng (đơn vị xây dựng công trình tiểu đoàn BB) đã hỗ trợ thêm mỗi gia đình có mộ phải di chuyển với mức 01 triệu/1 mộ (Doanh nghiệp tự hỗ trợ, không có hóa đơn, chứng từ).

Vậy việc hỗ trợ di chuyển mộ được thực hiện theo đúng Quyết định của UBND tỉnh, quy định nhà nước ngoài ra còn được hỗ trợ về công và tiền.

VIII. HUYỆN MƯỜNG TÈ

1. Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời (tại Báo cáo số 360/BC-UBND ngày 05/12/2018)

Cử tri huyện Mường Tè kiến nghị:Mùa mưa năm 2018, hầu hết các công trình thủy lợi, nước sinh hoạt đã bị mưa lũ cuốn trôi; nhiều hộ gia đình mất diện tích đất canh tác. Theo thống kê, đánh giá mức độ hư hỏng ngoài số công trình huyện đã hỗ trợ vật tư để hộ gia đình tự khắc phục, số còn lại để khắc phục thì nhu cầu là rất lớn (lên đến hàng trăm tỷ đồng), vượt quá khả năng ngân sách của huyện. Đề nghị UBND tỉnh bố trí nguồn vốn cho huyện để sớm khắc phục lại các công trình thủy lợi, nước sinh hoạt nhằm ổn định cuộc sống và sản xuất cho nhân dân.

Trả lời:

Theo báo cáo của UBND huyện Mường Tè và Ban chỉ đạo PCLB tỉnh, trong mùa mưa lũ năm 2018, trên địa bàn huyện Mường Tè bị thiệt hại rất nặng nề, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Tổng hợp thiệt hại ước tính 71,1 tỷ đồng. Tỉnh, huyện đã huy động các nguồn lực để khắc phục, cụ thể: Đã phân bổ 35,98 tỷ đồng cho huyện để khắc phục (gồm: NSTW 24,33 tỷ đồng; Ngân sách tỉnh 5,78 tỷ đồng; Ngân sách huyện 5,86 tỷ đồng). UBND tỉnh ghi nhận ý kiến của cử tri, trong điều kiện Ngân sách tỉnh rất hạn hẹp; tỉnh, huyện sẽ tiếp tục huy động các nguồn lực khác để từng bước khắc phục hậu quả mưa lũ.

2. Sở Y tế trả lời (tại Công văn số 1300/SYT-NVY ngày 28/11/2018)

Cử tri các xã Pa Ủ, Tà Tổng kiến nghị: Sở Y tế khảo sát và lập phương án mở thêm 01 đến 02 điểm uống thuốc Methadol tại các xã Pa Ủ, Tà Tổng để người cai nghiện trong khu vực đi lại được thuận tiện.

Trả lời:

Chương trình hiện đã triển khai điểm cấp phát thuốc Methadone tại Trạm Y tế xã Tà Tổng (có 63 người nghiện) và Trạm Y tế xã Pa Ủ (có 79 người nghiện) được nhân viên y tế xã cấp thuốc điều trị hàng ngày. Số người nghiện còn lại trên địa bàn hai xã đều do người bệnh sinh sống ở các thôn, bản xa trung tâm xã nên chưa thể tiếp cận với dịch vụ.

Việc mở điểm cấp phát thuốc Methadone tại thôn, bản là phù hợp với nhu cầu, địa bàn miền núi có thôn, bản (khoảng cách xa trung tâm xã >10 Km) đối với tỉnh Lai Châu, như: bản Nậm Dính, xã Tà Tổng; bản Mô Chi, xã Pa Ủ;bản Sàng Mào Phô, xã Sin Suối Hồ;... hiện tại theo số liệu báo cáo của chính quyền địa phương các thôn, bản trên đều có trên 20 người nghiện là đồng bào dân tộc đang sinh sống.

* Khó khăn, hạn chế khi mở điểm cấp phát thuốc tại thôn, bản:

Hiện nay, Bộ Y tế chưa có văn bản hướng dẫn việc tổ chức, triển khai cấp phát thuốc Methadone điều trị cho người nghiện ma tuý tại địa bàn thôn, bản. Điểm cấp phát thuốc Methadone phải được lồng ghép trong cơ sở y tế (trạm Y tế) để bảo bảo trong việc tổ chức cấp cứu, xử trí tai biến khi có sự cố chuyên môn xẩy ra. Công tácquản lý thuốc Methadone trong quá trình vận chuyển, lưu trữ, bảo quản tại điểm bản gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuân thủ các quy định và hướng dẫn thực hiện chuyên môn của Bộ Y tế;

Các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực thực hiện hoạt động hết sức khó khăn khi tổ chức hoạt động tại các điểm cấp thuốc tại bản.

3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời (tại Báo cáo số1325/BC-SNN ngày 03/12/2018)

Cử tri xã Mù Cả kiến nghị: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khảo sát và lập kế hoạch vốn đầu tư thủy lợi đầu nguồn suối Phìn Khò - xã Mù Cả, trước đây (năm 2016) đã khảo sát 01 lần đến nay đã gần 03 năm nhưng chưa thấy thực hiện.

Trả lời:

Với chức năng tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển thủy lợi trên địa bàn tỉnh, đầu năm 2016 Sở Nông nghiệp & PTNT phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện Mường Tè kiểm tra, rà soát hiện trạng, đánh giá khả thi dự án và tham mưu bổ sung danh mục công trình Thủy lợi Phìn Khò 1 xã Mù Cả vào quy hoạch phát triển thủy lợi trên địa bàn tỉnh.

Ngày 03/02/2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 127/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch phát triển thủy lợi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011-2020, trong đó có bổ sung công trình Thủy lợi Phìn Khò 1 xã Mù Cả huyện Mường Tè với nhiệm vụ cấp nước tưới cho 100 ha lúa.

Về việc đầu tư xây dựng dự án Thủy lợi Phìn Khò 1 xã Mù Cả huyện Mường Tè sẽ được triển khai thực hiện sau khi UBND tỉnh bố trí được nguồn vốn và cho Chủ trương đầu tư xây dựng công trình.

4. Công ty Điện lực Lai Châu trả lời (tại Công văn số 3442/PCLC-TTBVPC ngày 30/11/2018)

Cử tri các xã: Pa Vệ Sủ, Ka Lăng, huyện Mường Tè kiến nghị:Công ty Điện lực Lai Châu rà soát và sớm đưa điện quốc gia về những bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia gồm: Bản Sín Chải C, bản Chà Gá, xã Pa Vệ Sủ; bản Hà Kho, xã Ka Lăng đã di chuyển từ bản Ý Cá Đa, trước đây do nằm trong vùng có nguy cơ thiên tai.

Trả lời: Các bản thuộc các xã nêu trên đã có kế hoạch cấp điện bằng dự án “Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 – 2020”, dự án đã được Bộ Công thương phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tại Quyết định số 4295/QĐ-BCT ngày 28/10/2016. Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020, dự án chưa được bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện các bước tiếp theo./.

TTDN (TH)

Tin liên quan

UBND tỉnh trả lời kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ mười hai HĐND tỉnh(24/12/2019 4:34:56 CH)

Nội dung trả lời kiến nghị cử tri của các sở, ban, ngành sau kỳ họp thứ mười đến trước kỳ họp thứ mười hai HĐND tỉnh khóa XIV(24/12/2019 3:54:42 CH)

Kết quả giải quyết kiến nghị cử tri sau kỳ họp thứ mười, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIV(24/12/2019 3:16:59 CH)

Kết quả giải quyết kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 10, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIV(25/07/2019 2:23:54 CH)

Kết quả giải quyết và trả lời của UBND tỉnh đối với kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thứ tám HĐND tỉnh(19/07/2019 4:55:31 CH)

Tin mới nhất

Thường trực HĐND tỉnh họp thống nhất nội dung trình kỳ họp thứ tư HĐND tỉnh (kỳ họp chuyên đề)(23/09/2021 9:12:55 CH)

Ban Pháp chế HĐND tỉnh giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức, hợp đồng lao động từ năm 2019 đến 30/6/2021 trên địa bàn huyện Than Uyên(23/09/2021 10:49:22 CH)

Việc bố trí, sử dụng công chức, viên chức cơ bản hợp lý, phù hợp với chuyên môn được đào tạo (23/09/2021 10:17:06 CH)

Ban Dân tộc HĐND tỉnh(24/09/2021 10:08:50 SA)

Ban Pháp chế HĐND tỉnh(24/09/2021 10:07:10 SA)

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN ĐBQH VÀ HĐND TỈNH LAI CHÂU
Chịu trách nhiệm chính:
Trụ sở:
Email:
Số điện thoại:
Ông Dương Quốc Hoàn- Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lai Châu
Tầng 4,5 nhà B - khu Hành chính - Chính trị tỉnh
- Số điện thoại: 0213.3798.221
Số Fax:
0213.3798.228
ttdn.hdndtinh@laichau.gov.vn

Ghi rõ nguồn www.hdnd.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này